a) Mở bài – Đặt vấn đề: – Niềm tự hào của quân và dân ta trong trận chiến Đại Việt vào xuân – hè năm Ất Dậu 1285 được danh tướng kiệt xuất Trần Quang Khải thu nhỏ trong bài thơ “Phò giá về kinh”. – Bài thơ nêu lên tinh thần quả cảm chống giặc của dân tộc
Tự kỷ là một chứng rối loạn thần kinh rất phức tạp với rất nhiều các triệu chứng đặc trưng bởi hành vi, giao tiếp, suy nghĩ, cảm xúc,…có thể gây ảnh hưởng đến cuộc sống của người bệnh.
BÀI VĂN NGHỊ LUẬN HIỀN TÀI LÀ NGUYÊN KHÍ QUỐC GIA. Ngôi sao sáng nhất trên bầu trời đất nước là người hiền tài. Ánh sáng của họ rực rỡ nhất, trong sáng nhất. Sự trường tồn của mỗi quốc gia phụ thuộc phần nhiều vào những người hiền tài.
– Giới thiệu khái quát về tác giả Trần Quang Khải, tác phẩm Phò giá về kinh. – Cảm nghĩ chung về bài thơ Phò giá về kinh. b. Thân bài: * Đấu tranh kiên cường của dân tộc ta – Hai câu đầu nói về chiến thắng của quân và dân ta, trong đó có sự đóng góp to lớn của
Nội dung và nghệ thuật bài thơ “Phò giá về kinh”. Hãy nhận xét về cách biểu ý và biểu cảm của bài thơ “Phò giá về kinh”. Theo em, cách nói giản dị, cô đúc của bài thơ “Phò giá về kinh” có tác dụng gì trong việc thể hiện hào khí chiến thắng và khát vọng thái
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Phò giá về kinh của Trần Quang Khải. Trần Quang Khải (1241-1294) là con trai thứ ba của vua Trần Thánh Tông, là một danh tuớng kiệt xuất và là cả một tác giả ghi dấu trong lịch sử văn chương dân tộc. Với chủ đề yêu nước, Trần
BZPaGFy. Dàn ý1. Mở bài Giới thiệu vài nét về tác giả Trần Quang Khải Là người "văn võ song toàn", không chỉ có công lớn trong công cuộc đánh đuổi quân Mông - Nguyên mà còn là nhà thơ với những bài thơ đặc sắc Giới thiệu vài nét về Phò giá về kinh Tụng giá hòa kinh sư và nêu vấn đề cần nghị luận Tinh thần yêu nước2. Thân bàiHai câu thơ đầuTinh thần yêu nước thể hiện trong niềm vui, niềm tự hào ngây ngất khi tác giả cất lên bài ca chiến thắng "Đoạt sáo... Hàm Tử quan" Chương Dương... quân thù => Lời thông báo, tổng kết về chiến thắng cô đọng, hàm súc, đó cũng chính là bài ca của lòng yêu nước được thử thách trong khói lửa chiến tranhHai câu thơ sau Tinh thần yêu nước biểu hiện qua khát vọng và cái nhìn hướng tới tương lai "Thái bình... giang san" Thái bình... ngàn thu=> Ý thơ hào hùng, biểu hiện của lòng yêu quê hương đất nước, khát vọng cao cả, trí tuệ, sự sáng suốt của vị tướng tài ba=> Bộc lộ niềm tin mãnh liệt vào ngày mai tươi sáng3. Kết bài Khẳng định lại nội dung tư tưởng tác phẩm. Nêu suy nghĩ, đánh giá của bản thân. Bài làmThượng tướng thái sư Trần Quang Khải 1241-1294, con trai thứ ba của vua Trần Thánh Tông, không những là một danh tướng kiệt xuất mà còn là một nhà thơ đã in dấu ấn trong văn chương dân tộc. Trần Quang Khải làm thơ không nhiều, nhưng chỉ cần một bài như Phò giá về kinh Tụng giá hoàn kinh sư cũng đủ để thành một tên tuổi. Bài thơ ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt, giữa không khí hào hùng, ngây ngất men say của vinh quang chiến thắng. Và tác giả của nó, một vị tướng lỗi lạc, mà tên tuổi đã từng phải 10 phen khiến quân thù phải kinh hồn bạt vía, người vừa lập công lớn trong chiến trận, nay kiêu hãnh giữ trọng trách phò giá hai vua về kinh đô trong khúc khải hoàn ca của dân tộc. Tức cảnh sinh tình. Trong hào quang của chiến thắng, tâm hồn vị tướng- nhà thơ của chúng ta bỗng dạt dào cảm hứng thi ca, kết tinh thành những vần thơ thật đẹpChương Dương cướp giáo giặc,Hàm tử bắt quân bình nên gắng nước ấy ngàn thu.Trần Trọng Kim dịch Dường như sự xúc động quá lớn về niềm vui chiến thắng khiến nhà thơ không nói được nhiều. Bao nhiêu cảm xúc, suy tư dồn nên cả lại vào bốn dòng ngũ ngôn tứ tuyệt gân guốc, chắc nịch. Hai câu mở đầu nóng bỏng hơi thở chiến trận và đậm chất anh hùng caChương Dương cướp giáo giặc,Hàm Tử bắt quân thù. Chương Dương và Hàm Tử là hai chiến thắng lẫy lừng của Đại Việt trong cuộc kháng chiến vĩ đại chống quân xâm lược Mông Cổ năm 1285. Đối với quân dân nhà Trần lúc đó, chỉ cần nhắc đến cái tên Chương Dương-Hàm Tử cũng đã đủ thấy nức lòng. Đặc biệt, đối với thượng tướng Trần Quang Khải, người trực tiếp chỉ huy và lập nên chiến công trong trận Chương Dương, cũng là người góp phần hỗ trợ đắc lực cho Trần Nhật Duật đánh trận Hàm Tử, thì càng thêm xao xuyến, bồi hồi. Tác giả không tả lại cảnh khói lửa binh đao, cũng không tả lại cảnh quyết chiến của quân ta, mà chỉ kể lại theo cách liệt kê sự kiện, nhưng vẫn làm sống dậy cả một không khí trận mạc hào hùng bởi tiếng gươm khua, ngựa hí, tiếng binh khí, và cả tiếng thét tiến công vang dội. Sức gợi cảm của cách nói giản dị mà cương quyết, rắn rỏi là ở đó. Nên như mạch cảm xúc của hai câu đầu hướng về chiến trận, về hào quang chiến thắng, thì ở hai câu sau, mạch cảm xúc lại mở ra một hướng khácThái bình nên gắng sức,Non nước ấy ngàn thu. Vẫn với hai câu thơ ngắn gọn, chắc nịch mà lại chất chứa cảm xúc, tâm trạng và bao nỗi niềm suy tư. Vị tướng thắng trận mới đang trên đường trở về kinh đô, chưa kịp nghỉ ngơi chứ đừng nói tới việc hưởng thụ chiến công, đã lo nghĩ cho đất nước, những mong một nền thái bình muôn thuở cho ngàn đời con cháu mai sau. Thật cảm động và đáng kính phục! Tuy nhiên, Trần Quang Khải cảm nhận sâu sắc nền thái bình ấy đâu phải cứ mong là có. Để có nó, cần có sự chung lòng, chung sức, với bao tâm huyết tu trí lực của triều đình và trăm họ, trong đó có sự gắng sức của chính bản thân ông. Niềm mong mỏi của nhà thơ chính là khát vọng của cả một dân tộc, của muôn triệu trái tim Đại Việt xưa và nay. Vì thế hai câu kết với cảm hứng hoà bình đậm chất nhân văn đã đem lại cho bài thơ một vẻ đẹp mới, lấp lánh đến muôn đời.
Phân tích bài thơ Phò giá về kinh - Hướng dẫn lập dàn ý chi tiết và tham khảo một số bài văn mẫu hay phân tích nội dung, nghệ thuật bài thơ Phò giá về kinh Trần Quang Khải.Dàn ý phân tích bài thơ Phò giá về kinh1. Mở bàiGiới thiệu về tác giả, tác phẩm- Trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước ta, ghi dấu ấn lại bằng những chiến thắng oanh liệt trước giặc xâm lăng, trong số đó phải kể đến chiến thắng vang dội khiến giặc ngoại xâm phải khiếp sợ đó chính là cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược lần thứ “Phò giá về kinh” được Trần Quang Khải sáng tác khi mà quân và dân đã giành chiến thắng vang dội, vua và dân nhà Trần quay trở về kinh đô Thăng Long. Đây được coi là bài ca khải hoàn ca đầy lẫy lừng của dân tộc ta. Bài thơ được viết theo thể ngũ ngôn tứ tuyệt, bằng chữ Thân bài- Phân tích hai câu thơ đầu+ Mở đầu bài thơ là hai câu thơ nhắc đến hai chiến thắng lịch sử đánh dấu ấn quan trọng trong việc phá tan giặc Nguyên Mông đó là chiến thắng tại Chương Dương và Hàm Tử năm 1285“Đoạt sáo Chương Dương độ,Cầm Hồ Hàm Tử quan.”+ Hai câu thơ có thể được dịch như sau “Chương Dương cướp giáo giặc/ Hàm Tử bắt quân thù”.+ Chương Dương và Hàm Tử chính là hai địa danh thuộc tả và hữu của con sông Hồng. Dưới sự chỉ huy của vị tướng tài ba Trần Quang Khải quân và dân ta đã dành chiến thắng vẻ vang tại hai phòng tuyến quan trọng này.+ Hai câu thơ tuy rằng không nhắc đến sự khốc liệt của cuộc chiến, đến binh đao đến máu chảy nhưng hai động từ “đoạt sáo” và “cầm hồ” đã thể hiện được ý chí chiến đấu vô cùng ngoan cường của quân và dân ta.=> Lời thơ như đưa ta vào giữa cuộc chiến tranh, được đứng giữa cái cảm giác nâng nâng của sự chiến thắng, chiến thắng đã vang động cả đất trời.– Phân tích hai câu thơ cuối+ Tương lai của đất nước được Trần Quang Khải suy ngẫm và nhắn nhủ đến toàn thể dân tộc “Thái bình nên gắng sức,/ Non nước ấy ngàn thu”.+ Đây là lời nhắn nhủ của vị tướng tài ba kiệt xuất về tương lai của đất Việt, nền thái bình là tất cả mọi người từ già trẻ lớn bé, gái trai từ vua đến quân, dân đều phải tự ý thức trách nhiệm xây dựng và bảo vệ nền thái bình đó “tu trí lực”,=> Muốn như thế mỗi con người chúng ta cần tu dưỡng phẩm chất, đạo đức, tài năng cống hiến cho đất nước, tinh thần đoàn kết chính là sức mạnh vượt qua mọi khó khăn thử thách.+ Câu kết “Vạn cổ thử giang san” chính là sự nhấn mạnh của Trần Quang Khải kết quả của sự cố gắng dựng xây và bảo vệ đất nước kia chính là “Non nước” ấy lưu danh ngàn đời trường tồn đến hàng ngàn năm sau, đây cũng chính là ước mơ của tác Kết bài- “Phò giá về kinh” đã ra đời đến mấy trăm năm lịch sử nhưng giá trị mà bài thơ để lại vẫn còn vẹn nguyên cho đến ngày nay. Vị danh tướng tài ba - một nhà thơ lớn của dân tộc Trần Quang Khải đã dành hết tâm tư của mình cho bài thơ, nhắc nhủ đến toàn thể nhân dân, chính đoàn kết là sức mạnh dẫn đến chiến thắng, đồng thời cũng nêu lên tinh thần tự hào dân tộc và nhắc nhở mọi người cần tu dưỡng tài năng, đạo đức cống hiến của tổ bài văn mẫu hay nhất phân tích bài thơ Phò giá về kinhPhò giá về kinh là một trong những bài thơ nổi tiếng nhất của Trần Quang Khải, đứng trong hàng ngũ những bài thơ yêu nước xuất sắc nhất của văn học Việt Nam. Bài thơ vừa thể hiện âm hưởng chiến thắng hào hùng vừa cho thấy tầm nhìn xa trông rộng về đường hướng phát triển đất nước của tác thơ làm ngay sau khi quân ta giành chiến thắng, lúc đó Trần Quang Khải đi đón và hộ giá Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông trở về kinh thành Thăng Long. Bởi vậy bài thơ ra đời trong âm vang chiến thắng hào hùng của chiến thắng Chương Dương, Hàm Tử do đích thân Trần Quang Khải chỉ huy chiến câu thơ đầu là cảm hứng tự hào trước những chiến công của thời đại, mang tính thời sự nóng hổi Chương Dương cướp giáo giặc/ Hàm Tử bắt quân thù. Câu thơ ngắn gọn, chỉ có năm chữ mà chắc nịch ý tứ và niềm vui. Câu thơ như dồn nén sức mạnh và sự thần tốc, chớp nhoáng của các chiến công. Các động từ mạnh mẽ, dứt khoát đoạt, cầm mang phong cách của một vị tướng. Đồng thời còn diễn tả được không khí sục sôi của những sự kiện lịch sử có ý nghĩa xoay chuyển cục diện chiến trường. Chương Dương là trận đấu mở màn nhưng lại có ý nghĩa quyết định đến chiến thắng của cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên lần thứ hai. Câu thơ vang lên thật hào sảng, hân hoan niềm vui. Đầu mỗi câu thơ gắn với hai địa danh Chương Dương, Hàm Tử đây là những địa danh chói lọi gắn liền với những chiến công lịch sử của dân tộc, nó cũng trở thành biểu tượng cho thắng lợi huy hoàng. Nhắc lại hai địa danh đó càng làm niềm vui, niềm tự hào được nhân lên hơn nữa. Ngoài ra tác giả còn sử dụng từ ngữ mang sắc thái biểu cảm chữ Hồ thường được người phương Bắc dùng để gọi các dân tộc thiểu số phía Tây và Tây Bắc Trung Quốc. Bởi vậy khi dùng chữ này với quân xâm lược Mông – Nguyên tác giả thể hiện sự khinh với niềm vui chiến thắng, nhưng đằng sau đó ta vẫn thấy một Trần Quang Khải có tầm nhìn xa trông rộng, hết sức quan tâm đến vận mệnh đất nước. Hai câu thơ trên lướt nhanh qua những dòng sự kiện để rồi đọng lại những suy tư, chiêm nghiệm sâu sắc Thái bình nên gắng sức/ Non nước ấy ngàn thu. Hai câu thơ cho thấy cho thấy suy nghĩ, tầm nhìn của một vị thủ lĩnh, trong niềm vui chung của đất nước, ông không bị cuốn đi, không an lạc trong chiến thắng mà vẫn nêu lên nhiệm vụ sau khi giành được độc lập. Ông nêu lên trách nhiệm dẫu thái bình vẫn phải dốc hết sức lực để xây dựng, phát triển đất nước, có như vậy sông núi nước Nam mới bền vững muôn thuở. Hai câu thơ cuối vừa là chân lí vừa là kinh nghiệm được đúc rút từ thực tiễn chiến đấu lâu dài của dân tộc. Cũng chính bởi lời dặn dò ấy, mà nhân dân ta đã tiếp tục đánh thắng sự xâm lược của quân Mông - Nguyên lần tiếp theo, cũng bởi thế mà vận mệnh đất nước lâu bền, thịnh trị, nhân dân được sống trong cảnh yên ấm, hạnh phúc. Câu thơ đã thể hiện tầm nhìn của một con người có hiểu biết sâu rộng, cái nhìn sáng suốt, chiến lược trong tương thơ sử dụng thể thơ ngũ ngôn với số câu chữ ít ỏi, nhưng vô cùng hàm súc. Số câu chữ ít ỏi những đã khái quát đầy đủ sự kiện lớn của dân tộc và nêu lên chân lí lớn của thời đại. Kết cấu thơ chặt chẽ, ngôn từ chọn lọc, nhịp thơ ngắn gọn, kết hợp giữa biểu ý và biểu cảm. Vừa đưa ra những sự kiện lịch sử chính vừa thể hiện niềm vui, sự hân hoan trước chiến thắng và những suy tư, chiêm nghiệm sau khi đất nước đánh bại quân xâm thơ với ngôn ngữ chọn lọc, cô đọng giàu sức biểu cảm đã cho thấy hào khí chiến thắng và khát vọng thái bình thịnh trịnh của nhân dân đời Trần. Đồng thời khẳng định chân lí vừa mang ý nghĩa thời sự vừa mang ý nghĩa lịch sử“Thái bình nên gắng sứcNon nước ấy ngàn thu”.Tham khảo thêmPhát biểu cảm nghĩ về bài thơ Phò giá về kinhHướng dẫn soạn bài Phò giá về kinhBài mẫu 1Trong công cuộc kháng chiến chống giặc Mông - Nguyên xâm lược đời Trần, Thượng tướng Trần Quang Khải đã lập được nhiều chiến công to lớn. Sau chiến thắng Hàm Tử, rồi chiến thắng Chương Dương năm 1285, trong ngày vui đất nước được giải phóng, Trần Quang Khải vinh dự đón nhà vua về kinh đô. Trên đường đi, ông đã hứng khởi sáng tác bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư. Bài thư nguyên văn bằng chữ Hán, theo thể Đường luật ngũ ngôn tứ tuyệt, toàn bài bốn câu, mỗi câu năm tiếng tuyệt hay. Tuy tác phẩm thuộc loại biểu ý là chính, nhưng đằng sau những ý tưởng lớn lao vẫn dạt dào biết bao cảm xúc sâu lắng. Đây là khúc khải hoàn dầu tiên của dân tộc ta trong cồng cuộc kháng chiến chống ngoại thời đại nhà Trần, dân tộc ta từng đã nhiều lần đánh tan bọn giặc ngoại xâm. Nhưng sau những chiến công ấy, chúng ta chưa dược đọc, được nghe một tác phẩm văn chương nào viết về chiến thắng, hoan ca khúc khải hoàn. Do đó, bài thơ Phò giá về kinh của vị thượng tướng - thi sĩ không những có tính lịch sử mà còn có giá trị văn chương. Chúng ta hãy đọc nguyên tác bài thơ phiên âm chữ HánĐoạt sáo Chương Dương độ,Cầm Hồ Hàm Tử bình tu trí lực,Vạn cổ thử giang đọc bản dịch thơ của Trần Trọng Kim Chương Dương cướp giáo giặc,Hàm Tử bắt quân bình nên gắng sức,Non nước ấy ngàn cục tác phẩm gồm hai phần khá mạch lạc. Hào khí chiến thắng được thể hiện ở hai câu đầuChương Dương cướp giáo giặc,Hàm Tử bắt quân hiểu lịch sử, biết rằng trong công cuộc kháng chiến chống giặc Mông - Nguyên đời Trần, quân dân ta đã giành nhiều chiến thắng trong nhiều chiến dịch, nổi tiếng nhất là chiến thắng trên sông Bạch Đằng. Nhưng Trần Quang Khải chỉ nói tới hai chiến thắng ở Chương Dương và Hàm Tử. Tại sao? Phải chăng đây là hai chiến dịch tiêu biểu, có tính quyết định để giành thắng lợi cuối cùng?Phải chăng nhờ hai chiến thắng này, xa giá nhà vua và các triều đình sau thời gian sơ tán, tạm lánh về nông thôn, được trở về kinh đô, vui lắm, phấn khởi lắm, đáng làm thơ, đáng ca hát lắm? Trong thực tế, chiến thắng Hàm Tử diễn ra trước tháng 4 năm 1285, chiến thắng Chương Dương sau tháng 6 năm 1285.Tại sao tác giả nêu Chương Dương trước, sau đó là Hàm Tử? Đây cũng là câu hỏi thú vị. Tìm hiểu lịch sử, ta biết rằng, ở chiến thắng trước - Hàm Tử - người chỉ huy là tướng Trần Nhật Duật, còn Trần Quang Khải chỉ tham gia hỗ trợ. Còn tại Chương Dương, Thượng tướng Trần Quang Khải thống lĩnh ba quân, trực tiếp chỉ huy và giành thắng lợi giòn giã, để rồi ngay sau đó đón nhà vua về kinh. Niềm vui chiến thắng, đi liền niềm vui được "phò giá" dồn dập nối tiếp nhau lay động trí tuệ và tâm lẽ vì thế trong phút ngẫu hứng, vị thượng tướng đã nhắc ngay tới Chương Dương, rồi mới hồi tưởng Hàm Tử. Trong cả hai chiến dịch Chương Dương và Hàm Tử, quân dân ta đã chiến đấu vô cùng dùng cảm, khí thế trận mạc vô cùng sôi động, thành tích chiến đấu vô cùng phong phú,... Song, tác giả chỉ đúc lại trong hai câu thơ ngắn gọn, mười âm tiết. Ở mỗi chiến thắng, cũng đúc lại bằng hai từ "đoạt sáo" cướp giáo, "cầm Hồ" bắt quân Hồ.Cần chú ý câu thơ nguyên tác "đoạt sáo". "Đoạt" nghĩa gốc là "lấy hẳn được về cho mình qua đấu tranh với người khác". Như vậy, dùng từ "đoạt sáo", nhà thơ vừa ghi chiến công vừa ngợi ca hành động chính nghĩa và dũng cảm của quân dân ta. Bản dịch dùng từ "cướp giáo" làm giảm phần nào vẻ đẹp của chiến thắng. Ở Chương Dương, ta giành được gươm giáo, vũ khí quân giặc. Còn ở Hàm Tử, ta bắt được quân tướng của chúng. Mỗi chiến dịch một thành tích khác nhau, bổ sung cho nhau, thật hài hòa, toàn diện. Trong chiến trận, chắc có thương vong, quân giặc chắc bị ta tiêu diệt, giết chết, đuổi chạy khá nhiều. Nhưng lời thơ không nói tới cảnh máu chảy, đầu rơi, mà chỉ nhắc hai hành động "đoạt sáo", "cầm Hồ".Cách nói ấy nhẹ mà sâu, biểu hiện rõ mục đích chiến đấu của dân tộc ta không phải là chém giết mà là giành lại nền độc lập, bắt kẻ thù phải quy thuận, trả lại non sông, đất nước cho ta. Câu thơ dồn nén, biểu ý rắn khoẻ. Nhưng nhịp thơ, âm điệu vẫn toát ra niềm vui, niềm tự hào phơi phới. Đọc thơ, ta có cảm giác vị thượng tướng ấy đang ngẩng cao đầu, vừa đi giữa đoàn quân chiến thắng vừa sang sảng cất tiếng ngâm thơ. Tiếng ngâm lan truyền và được ba quân nối tiếp, trở thành khúc ca hào hùng vang động núi sông. Đúng là khúc khải hoàn hai câu dưới, âm điệu thơ như lắng lại. Nhà thơ suy nghĩ về tương lai đất nướcThái bình nên gắng sức,Non nước ấy ngàn là lời tự nhủ của vị thượng tướng về ngày mai của đất nước, cũng là lời nhắn nhủ toàn thể quân dân ta bấy giờ. Tiếng nói, khát vọng, của một người đã trở thành ý nghĩ, quyết tâm của toàn dân tộc. Trần Quang Khải tự nhắc mình nêu cao trách nhiệm, cố gắng "tu trí lực", tức là rèn luyện, tu dưỡng tài năng, sức lực. Đồng thời ông động viên quân dân "gắng sức, đồng lòng" phát huy thành quả chiến thắng để xây dựng đất nước thanh bình bền vững dài lâu. Câu thơ kết "Vạn cổ thử giang san" vừa chỉ ra cái đích đi tới của đất nước vừa bày tỏ lòng mong muốn, niềm khát khao mãnh liệt về một tương lai tươi sáng muôn đời của dân tộc. Nghĩa của thơ biểu ý, nhưng nhạc của thơ biểu cảm. Lời răn dạy hài hoà với niềm tin, niềm hi năm sau khi bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư ra đời, vào tháng 4 năm 1288, trong buổi tế thần tại Chiêu Lăng lăng vua Trần Thái Tông, đức vua Trần Nhân Tông đã ngẫu hứng đọc hai câu thơXã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,Sơn hà thiên cổ điện kim âu.Xã tắc hai phen chồn ngựa đá,Non sông nghìn thuở vững âu vàngPhải chăng hai câu thơ trên của nhà vua đã đồng vọng với bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư của Thượng tướng Trần Quang Khải ? Và phải chăng đấy cũng chính là hào khí của cả dân tộc ta thời đại nhà Trần, mà sau này người đời gọi là Hào khí Đông A ? Hào khí Đông A nghĩa là thế nào ? Đông A là chiết tự tên họ Trần, gồm hai chữ chữ Đông ghép với chữ A trong Hán tự. Hào khí Đông A là lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, là khí thế, quyết tâm lớn lao của quân dân đời Trần trong sự nghiệp chống ngoại xâm và xây dựng đất nước thanh bình, bền vững. Hào khí Đông A không chỉ là tư tưởng, tâm hồn của con người mà còn là nội dung tư tưởng, là âm hưởng bao trùm trong rất nhiều tác phẩm thơ văn Việt Nam thời nhà Trần, thế kỉ XII, lại với bài thơ Phò giá về kinh của Trần Quang Khải, ta thấy bài thơ thật ngắn gọn, hàm súc, biểu ý sâu sắc, biểu cảm dạt dào. Trong bài thơ có nhiều từ Hán Việt, nhưng khá quen thuộc với chúng ta ngày nay, như "Chương Dương độ, Hàm Tử quan, thái bình, trí lực, vạn cổ, giang sơn". Do đó, đọc thơ, chịu khó tìm tòi, suy ngẫm, chúng ta hiểu được và rung cảm được với ý thơ, hồn thơ của tác giả - người sống cách chúng ta gần một ngàn năm. Nếu ta gọi bài thơ Sông núi nước Nam là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên, thì cũng có thể coi Phò giá về kinh là khúc khải hoàn ca đầu tiên trong lịch sử chống ngoại xâm và trong lịch sử văn học Việt hình thức diễn đạt cô đúc, dồn nén cảm xúc vào bên trong ý tưởng, bài thơ Phò giá về kinh đã thể hiện hào khí chiến thắng và khát vọng lớn lao của dân tộc ta ở thời đại nhà mẫu 2Thượng tướng Trần Quang Khải là một vị tướng văn võ song toàn, từng có công rất lớn trong hai cuộc chiến chống quân Mông - Nguyên. Sau chiến thắng vang dội ở Chương Dương, Hàm Tử, chiến thắng giải phóng kinh đô năm 1285, ông được cử đi đón Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông về kinh. Trên đường đi, ông đã sáng tác bài thơ “Tụng giá hoàn kinh sư”. Đây là khúc khải hoàn đầu tiên của dân tộc ta trong công cuộc kháng chiến chống giặc ngoại câu đầu của bài thơ thể hiện chiến thắng hào hùng vang dội của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên – Mông xâm sáo Chương Dương độCầm Hồ Hàm Tử quanChương Dương cướp giáo giặc,Hàm Tử bắt quân thù.Như chúng ta đã biết, trong cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông thời vua Trần, nhân dân ta đã giành nhiều chiến thắng trong nhiều chiến dịch, nổi tiếng nhất là chiến thắng trên sông Bạch Đằng. Nhưng tại sao Trần Quang Khải chỉ nói đến chiến thắng ở Chương Dương và Hàm Tử mà không hề nhắc đến trận Bạch Đằng? Phải chăng đây là hai chiến thắng tiêu biểu, có tính quyết định dứt khoát để giành thắng lợi cuối cùng? Phải chăng nhờ hai chiến thắng này, nhà vua và cả triều đình sau thời gian sơ tán, được trở về kinh đô, trở về nhà trong niềm vui sướng? Trong thực tế lịch sử, chiến thắng Hàm Tử diễn ra trước, chiến thắng Chương Dương sau. Tại sao tác giả lại nói ngược lại, nêu Chương Dương trước, sau đó là Hàm Tử? Tìm hiểu lịch sử, ta thấy rằng, người chỉ huy trận Hàm Tử là tướng Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải chỉ tham gia hỗ trợ. Còn ở trận Chương Dương, Trần Quang Khải thống lĩnh ba quân, trực tiếp chỉ huy và giành thắng lợi giòn giã, để rồi ngay sau đó được cử hộ giá nhà vua về kinh. Niềm vui chiến thắng, đi liền với niềm vui được “phò giá” dồn dập nối tiếp cộng hưởng cho nhau. Có lẽ vì thế mà trong phút ngẫu hứng, vị tướng đã nhắc ngay đến chiến thắng Chương Dương, rồi mới hồi tưởng Hàm Tử. Trong cả hai chiến dịch, quân ta đã chiến đấu rất dũng cảm, khí thế, quyết đoán. Song, tác giả chỉ đúc lại trong hai câu thơ ngắn gọn với hai động từ mạnh đó là “đoạt” và “cầm”. “Đoạt” nghĩa là “lấy hẳn được về cho mình qua đấu tranh với người khác”. Như vậy, dùng từ “đoạt sáo”, nhà thơ vừa ghi nhận chiến công vùa ngợi ca hành động chính nghĩa, dũng cảm của quân ta. Ở Chương Dương, ta giành được gươm giáo, vũ khí của giặc thì ở Hàm Tử, ta bắt sống được tướng giặc ngay tại trận. Trong chiến trận chắc chắn có thương vong, tổn hại lực lượng của cả bên ta lẫn bên địch. Nhưng lời thơ không đề cập đến, vì mục đích chiến đấu của dân tộc ta không phải là giết kẻ thù mà là giành lại nền độc lập, bắt kẻ thù phải trả lại đất nước cho ta. Giọng thơ khỏe khoắn, hùng tráng, âm điệu tươi vui, rộn ràng làm ta có cảm giác vị tướng ấy đang ngẩng cao đầu, vùa đi vừa cất tiếng ngâm thể nói, hai câu thơ trên đã tái hiện không khí chiến thắng oanh liệt, tình cảm phấn chấn, tự hào của nhà thơ trên đường hộ tống nhà vua về xuống hai câu sau, âm điệu thơ như lắng lại. Nhà thơ dường như đang suy nghĩ về tương lai đất nướcThái bình tu trí lực,Vạn cổ thử giang san.Thái bình nên gắng sức,Non nước ấy ngàn thu.Đây là lời tự nhủ của vị thượng tướng về tương lai của đất nước, cũng là lời nhắn nhủ toàn thể quân dân ta bấy giờ. Tiếng nói, khát vọng của một người đã trở thành động lực, quyết tâm của toàn dân tộc. Trần Quang Khải tự nhắc mình nêu cao tinh thần trách nhiệm, cố gắng “tu trí lực”, bởi tu dưỡng trí tuệ, rèn luyện sức lực là hai yếu tố tiên quyết của một con người và một dân tộc nếu muốn làm nên chiến thắng, muốn xây dựng hòa bình. Đồng thời, ông động viên quân dân gắng sức, đồng lòng phát huy thành quả chiến thắng để xây dựng đất nước thanh bình, bền vững dài lâu chứ không được ngủ quên trên chiến thắng. Câu thơ cuối vừa chỉ ra cái chặng đường đi tiếp của đất nước vừa bày tỏ lòng mong muốn, niềm khát khao mãnh liệt về một tương lai tươi sáng muôn đời của dân tộc. Nghĩa của thơ biểu ý, nhưng nhạc của thơ lại mang tính biểu cảm. Lời răn dạy hài hòa với niềm tin, niềm hy vọng của quân dân câu thơ sau là khát vọng hòa bình sau khi giành được chiến thắng vang dội và sự mong muốn xây dựng nền hòa bình cho đất nước lâu dài. Đây là lời tự nhủ của vị thượng tướng, đồng thời cũng là lời nhắn nhủ với quân dân chúng ta không được phép ngủ quên trên chiến thắng. Điều đó thể hiện trí tuệ, biết lường trước được mọi việc, tầm nhìn xa trông rộng của một vị lãnh đạo tài ba biết lo cho dân cho nước. Để cho non nước được nghìn thu, hòa bình bền vững, thì khát vọng hòa bình không chỉ là khát vọng của riêng của người lãnh đạo mà còn là khát vọng chung của cả dân cách nói chân thành, với câu chữ giản dị, mộc mạc, “Tụng giá hoàn kinh sư” đã thể hiện hào khí chiến thắng vang dội và khát vọng thái bình thịnh trị của dân tộc ta trong thời đại nhà đây là nội dung dàn ý chi tiết và một số bài văn mẫu với chủ đề phân tích bài thơ Phò giá về kinh của Trần Quang Khải. Bằng việc đọc và tham khảo kết hợp với những tri thức đã được học trên lớp về tác phẩm, các em hoàn toàn có thể viết được một bài văn hoàn chỉnh đảm bảo yêu cầu đề bài. Chúc các em học tốt !
Hướng dẫn Đề bài Phat bieu cam nghi ve bai tho Pho gia ve kinh. Anh chị hãy phát biểu cảm nghĩ về bài thơ phò giá về kinh của Nguyễn Quang Khải. Mở bài Cảm nghĩ về bài thơ Phò giá về kinh Trần Quang Khải 1241-1294 con trai thứ ba của vua Trần Thái Tông và ông được phong chức thượng tướng,có công rất lớn trong cuộc kháng chiến chống mông nguyên xâm là một trong những nhà thơ lớn của dân tộc có những vần thơ “sâu xa lí thú” không chỉ vậy ông còn là võ tướng kiệt xuất. Bài thơ phò giá về kinh được ông sáng tác trong hoàn cảnh ông đi đón thái thượng hoàng Trần Thánh Tông về Thăng Long,ngay sau khi chiến thắng Chương Dương,Hàm Tử và giải phóng kinh đô năm thơ được tác giả viết theo thể ngũ ngôn tứ tuyệt đường luật có cách gieo vần tương tự thất ngôn tứ tuyệt. Thân bài Cảm nghĩ về bài thơ Phò giá về kinh Hai câu thơ “Đoạt sáo Chương Dương độ, Hảm Tử bắt quân thù” Chương Dương là bến sông nằm ở hữu ngạn sông hồng,thuộc huyện Thường Tín tỉnh Hà thắng Chương Dương diễn ra vào tháng sáu năm Ất Dậu do chính Trần Quang Khải chỉ từ “ Hàm Tử” là một địa điểm ở tả ngạn sông hồng thuộc huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Hàm Tử diễn ra vào tháng 4 năm Ất Dậu do Trần Nhật Duật chỉ huy với sự hỗ trợ của Trần Quang Khải. Đó là những trận thủy chiến oanh liệt trên chiến tuyến sông Hàm tử diễn ra vào tháng tư khoảng hai tháng sau Trần Quang Khải đại thắng giặc ngoại xâm quân Nguyên –mông tại Chương Dương,hàng vạn tên lính bị tiêu diệt thì bị bắt làm tù ta vừa đẩy lùi được giặc ngoại xâm vừa chiếm được nhiều thuyền,vũ khí và lương thực của quân giặc. Cụm từ “Đoạt sáo” và “Cầm hồ” được đặt ở đầu mỗi câu thơ giống như nốt nhấn trong khúc ca đại thơ hào hùng oanh liệt thể hiện được khí thế hào hùng của dân tộc ta lúc bấy vua quan lại trong triều đình đến nhân dân ai cũng hả hê vui mừng vì cuộc đại thắng. Với thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt kết hợp với nhịp thơ nhanh,gấp và các động từ biểu thị tác động mạnh mẽ dứt khoát nhưđoạt,cướp lấy thể hiện nhịp thơ sôi động dồn dập của trận chiến khiến cho người đọc có thể hình dung ra được khí thế của trận chiến ấy oanh liệt biết nhường hè năm Ất Dậu là một mốc son lịch sử trọng đại trong chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta,hiện thực ấy đã truyền cảm hứng vào những vần thơ hào hùng tráng khiến bài thơ trở nên hào hùng mang đậm chất tính hùng ca. Trong đoạn thơ tác giả đã sử dụng thủ pháp nghệ thuật là liệt kê và phép đối để làm nổi bật lên hai sự kiện lịch sử mang tầm vóc chiến chiến thắng Chương Dương độ và Hàm Tử quan đã làm thay đổi cục diện trên chiến trường của dân ta từ chỗ rút lui chiến lược thành quân ta đã tiến lên phản công như vũ trận chiến quân Nguyên do Thoát Hoan cầm đầu sang xâm lược nước ta khi ấy kinh thành Thăng long chìm trong khói lửa ngút trời vận nước ta lúc bấy giờ đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” nhưng với tài thao lược và tài cầm quân của những vị anh hùng quân ta đã lấy đoản binh chế trường trận lấy yếu đánh hai trận chiến Chương Dương và Hàm tử đã giáng xuống đầu bọn giặc phương bắc những bài học nhớ đời về tinh thần chiến đấu của dân tộc ta,kinh thành Thăng long được giải phóng. Trần quang Khải là nhà thơ đầu tiên đã để lại dấu ấn trong lịch sử cái tên Chương Dương và Hàm Tử đã in sâu vào lịch sử chống giặc ngoại xâm,lịch sử văn chương như một trang chói lọi,để viết được những vần thơ hay như vậy thì ông phải là người trong cuộc đứng ở một góc độ nào đấy hơn cả là ông ó lòng yêu thương quê hương đất nước thì ông mới có thể viết ra được những vần thơ hay như thế. Hai câu thơ tiếp Thái bình tu chí lực, Vạn cổ thử gian san. Thái bình nên gắng sức, Non nước ấy ngàn thu Hai câu thơ trên là lời của vị tướng muốn nói với dân hãy tập trung vào xây dựng phát triển non sông đất nước hòa bình và tin tưởng vào sự bền vững muôn đời của Tổ vừa từ chiến trường trở về áo còn vương mùi thuốc súng chưa kịp nghỉ ngơi ông đã nghĩ ngay đến việc trước mắt cũng như lên kế sách lâu dài cho quốc gia ông nhấn mạnh “trong thời bình mọi người cần phải dốc sức vào xây dựng non sông và phát triển đất nước,dân giàu nước mạnh thì mới đánh tan được tham vọng ngông cuồng của giặc ngoại xâm đồng thời chủ quyền độc lập mới được lâu dài”.Điều đó chứng tỏ ông vừa là một vị tướng tài ba vừa có lòng thương dân một lòng hướng tới non sông đất nước,luôn đặt trách nhiệm với dân,với nước lên hàng đầu. Kết bài Cảm nghĩ về bài thơ Phò giá về kinh Với hình thức diễn đạt cô đúc,dồn nén cảm xúc vào bên trong ý tưởng,bài thơ “Phò giá về kinh” đã thể hiện được hào khí chiến thắng và khát vọng thái bình thịnh trị của dân tộc ta ở thời đại nhà Trần. TỪ KHÓA TÌM KIẾM Cảm nghĩ về bài thơ Phò giá về kinh Cảm nghĩ của em về bài thơ Phò giá về kinh Cảm nghĩ của anh chị về bài thơ Phò giá về kinh Cam nghi ve bai tho Pho gia ve kinh Cam nghi cua em ve bai tho Pho gia ve kinh Theo Topics Cảm nghĩ cảm nghĩ về bà chiến thắng hòa bình khát vọng mùa hè phát biểu cảm nghĩ Phò giá về kinh quê hương Trần Quang Khải
Nội dung bài viết1 Cảm nghĩ về bài thơ Phò giá về kinh của Trần Quang Khải – Bài làm 1 2 3 Cảm nghĩ về bài thơ Phò giá về kinh của Trần Quang Khải – Bài làm 2 4 Cảm nghĩ về bài thơ Phò giá về kinh của Trần Quang Khải – Gợi ý Cảm nghĩ về bài thơ Phò giá về kinh của Trần Quang Khải – Bài làm 1 Có những bài thơ khi mới nhắc tên đã làm sống dậy trong lòng người đọc niềm tự hào về những trang sử vẻ vang của dân tộc. Bài thơ “Phò giá về kinh” của Trần Quang Khải là một trong những bài như thế. Bài thơ đã để lại trong em ấn tượng khó phai mờ về những chiến thắng hào hùng của quân dân nhà Trần trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ hai. Đọc bài thơ trước hết em vô cùng tự hào về hào khí chiến đấu của quân và dân ta được tái hiện trong hai câu thơ đầu. Câu thơ năm chữ, ngắn gọn nhưng củng đủ làm em hình dung được tinh thần chiến đấu chủ động, áp đảo kẻ thù của quân ta Đoạt sóc Chương Dương độ Cầm Hồ Hàm Tử quan Dịch thơ Chương Dương cướp giáo giặc Hàm Tử bắt quân thù Trần Quang Khải thật tinh tế khi lựa chọn hai động từ mạnh “ Đoạt” và “ Cầm” nghĩa là “ Cướp” và “ Bắt lấy”đặt lên đầu câu theo kiểu đảo ngữ nhằm gợi tả hành động mạnh mẽ, ý chí chiến đấu dũng cảm của quân ta. Giọng thơ mạnh mẽ, nhịp thơ nhanh dồn dập cũng góp phần thể hiện khí thế tiêu diệt giặc chủ động, tinh thần chiến đấu quả cảm của quân dân thời Trần. Đọc đến đây em thấy mình như được sống lại không khí hân hoan mừng chiến thắng của dân tộc qua các địa danh “ Chương Dương, Hàm Tử”. Cách liệt kê hai địa danh đồng thời cũng là hai chiến thắng vang dội đã tô đậm hào khí chiến thắng của quân ta. Tuy nhiên nét đặc biệt của bài thơ là trình tự các chiến thắng không được nêu theo diễn biến thời gian trước sau mà theo trình tự đảo ngược. Chiến thắng Chương Dương xảy ra sau lại được nhắc đến trước, chiến thắng Hàm Tử xảy ra trước lại được nhắc đến sau. Cách trình bày như thế là hợp với lô-gíc của tình cảm con người. Trận sau mới hơn và cũng vang dội hơn. Chính nhờ chiến thắng Chương Dương mà Thoát Hoan phải bỏ chạy, Thăng Long được giải phóng. Chính nhờ chiến tháng Chương Dương mà có cái không khí rạo rực phấn chấn trong ngày rước vua Trần trở lại kinh thành. Lời thơ rất cô đúc, vẻn vẹn mười chữ, nêu hai sự việc là “cướp giáo giặc” “bắt quân thù” và hai chiến thắng giúp người đọc cảm nhận được niềm phấn chấn, hân hoan của toàn dân tộc. Không chỉ tự hào về hào khí chiến đấu và chiến thắng của quân ta, em còn đồng cảm với khát vọng của Trần Quang Khải và quân dân thời Trần được gửi gắm trong hai câu thơ cuối của bài thơ. Đó là khát vọng về việc xây dựng đất nước trong hòa bình Thái bình tu trí lực Vạn cổ thử giang san Dịch thơ Thái bình nên gắng sức Non nước ấy ngàn thu Ngôn ngữ thơ giản dị, nhịp thơ chậm lại gợi người đọc hình dung tới lời động viên quân dân sau chiến thắng. Đất nước đã hòa bình cần xây dựng đất nước giàu mạnh muôn đời. Vì sao vây? Thông thường, sau chiến thắng người ta thường dễ thoả mãn, dễ say sưa với vinh quang, chiến thắng, dễ bỏ lỡ một khoảng thời gian cần thiết chuẩn bị cho tương lai. Trần Quang Khải đã có nhận thức hoàn toàn đúng đắn và đặt vấn đề một cách kịp thời về những công việc thời hậu chiến. Công việc quan trọng của một đất nước sau chiến tranh là xây dựng đất nước giàu mạnh, hòa bình thịnh trị lâu dài. Bởi vậy rất cần phải “tu trí lực”để “Vạn cổ thử giang san”. Ý thơ không chỉ gợi cho người đọc hiểu được khát vọng và nhiệm vụ xây dựng đất nước mà còn bộc lộ niềm tin sắt đá vào sự bền vững muôn đời của đất nước. Điếu ấy đã làm nên ý nghĩa sâu sắc của bài thơ. Yêu thích nội dung bài thơ bao nhiêu em càng yêu thích nét nghệ thuật đặc sắc của bài thơ bấy nhiêu. Bài thơ làm theo thể ngũ ngôn ngắn gọn rất kiệm lời mà giàu ý nghĩa. Đặc biệt với cách diễn đạt cô đúc, dồn nén cảm xúc vào bên trong ý tưởng đã giúp người đọc hình dung được hào khí chiến thắng và khơi gợi niềm tự hào về những chiến thắng vang dội của nhân dân ta. Bài thơ đã khép lại song âm vang chiến thắng như vẫn còn vang vọng đâu đây. Bài thơ xứng đáng là một khúc ca khải hoàn của dân tộc góp phần khơi gợi, bồi đắp trong lòng mỗi chúng ta tình yêu quê hương đất nước. Cảm nghĩ về bài thơ Phò giá về kinh của Trần Quang Khải – Bài làm 2 Thượng tướng thái sư Trần Quang Khải 1241-1294, con trai thứ ba của vua Trần Thánh Tông, không những là một danh tuớng kiệt xuất mà còn là một nhà thơ đã in dấu ấn trong văn chương dân tộc. Trần Quang Khải làm thơ không nhiều, nhưng chỉ cần một bài như Phò giá về kinh Tụng giá hoàn kinh sư cũng đủ để thành một tên tuổi. Bài thơ ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt, giữa không khí hào hùng, ngây ngất men say của vinh quang chiến thắng. Và tác giả của nó, một vị tướng lỗi lạc, mà tên tuổi đã từng phải 10 phen khiến quân thù phải kinh hồn bạt vía, người vừa lập công lớn trong chiến trận, nay kiêu hãnh giữ trọng trách phò giá hai vua về kinh đô trong khúc khải hoàn ca của dân tộc. Tức cảnh sinh tình. Trong hào quang của chiến thắng, tâm hồn vị tướng- nhà thơ của chúng ta bỗng dạt dào cảm hứng thi ca, kết tinh thành những vần thơ thật đẹp Chương Dương cướp giáo giặc, Hàm tử bắt quân thù. Thái bình nên gắng sức. Non nước ấy ngàn thu. Trần Trọng Kim dịch Dường như sự xúc động quá lớn về niềm vui chiến thắng khiến nhà thơ không nói được nhiều. Bao nhiêu cảm xúc, suy tư dồn nên cả lại vào bốn dòng ngũ ngôn tứ tuyệt gân guốc, chắc nịch. Hai câu mở đầu nóng bỏng hơi thở chiến trận và đậm chất anh hùng ca Chương Dương cướp giáo giặc, Hàm Tử bắt quân thù. Chương Dương và Hàm Tử là hai chiến thắng lẫy lừng của Đại Việt trong cuộc kháng chiến vĩ đại chống quân xâm lược Mông Cổ năm 1285. Đối với quân dân nhà Trần lúc đó, chỉ cần nhắc đến cái tên Chương Dương-Hàm Tử cũng đã đủ thấy nức lòng. Đặc biệt, đối với thượng tướng Trần Quang Khải, người trực tiếp chỉ huy và lập nên chiến công trong trận Chương Dương, cũng là người góp phần hỗ trợ đắc lực cho Trần Nhật Duật đánh trận Hàm Tử, thì càng thêm xao xuyến, bồi hồi. Tác giả không tả lại cảnh khói lửa binh đao, cũng không tả lại cảnh quyết chiến của quân ta, mà chỉ kể lại theo cách liệt kê sự kiện, nhưng vẫn làm sống dậy cả một không khí trận mạc hào hùng bởi tiếng gươm khua, ngựa hí, tiếng binh khí, và cả tiếng thét tiến công vang dội. Sức gợi cảm của cách nói giản dị mà cương quyết, rắn rỏi là ở đó. Nên như mạch cảm xúc của hai câu đầu hướng về chiến trận, về hào quang chiến thắng, thì ở hai câu sau, mạch cảm xúc lại mở ra một hướng khác Thái bình nên gắng sức, Non nước ấy ngàn thu. Vẫn với hai câu thơ ngắn gọn, chắc nịch mà lại chất chứa cảm xúc, tâm trạng và bao nỗi niềm suy tư. Vị tướng thắng trận mới đang trên đường trở về kinh đô, chưa kịp nghỉ ngơi chứ đừng nói tới việc hưởng thụ chiến công, đã lo nghĩ cho đất nước, những mong một nền thái bình muôn thuở cho ngàn đời con cháu mai sau. Thật cảm động và đáng kính phục! Tuy nhiên, Trần Quang Khải cảm nhận sâu sắc nền thái bình ấy đâu phải cứ mong là có. Để có nó, cần có sự chung lòng, chung sức, với bao tâm huyết tu trí lực của triều đình và trăm họ, trong đó có sự gắng sức của chính bản thân ông. Niềm mong mỏi của nhà thơ chính là khát vọng của cả một dân tộc, của muôn triệu trái tim Đại Việt xưa và nay. Vì thế hai câu kết với cảm hứng hoà bình đậm chất nhân văn đã đem lại cho bài thơ một vẻ đẹp mới, lấp lánh đến muôn đời. Cảm nghĩ về bài thơ Phò giá về kinh của Trần Quang Khải – Gợi ý 1. Bố cục của bài thơ Bài thơ gồm hai phần khá mạch lạc theo kết cấu thường có của bài thơ cổ, thường qua việc kể, tả sự việc để bộc lộ những cảm xúc, suy tưởng trên nền sự việc đó. Kiểu cấu tứ này thời xưa gọi là “xúc cảnh sinh tình” tâm tiếp xúc với cảnh sinh ra tình. Có loại bài thơ bắt đầu với việc tả cảnh, kể sự việc sau đó chuyển sang phần suy nghĩ, cảm xúc; lại có loại bài thơ sau mỗi sự việc hay cảnh vật ắn chứa cảm xúc, suy tư. Bài Tụng giá hoàn kinh sư thuộc loại thứ nhất, còn bài Thiên Trường vãn vọng thuộc loại thứ hai. Bài thơ có thể chia làm hai phần, mỗi phần tương ứng với hai câu thơ – Hai câu đầu nhắc lại hai sự kiện cụ thể của cuộc chiến đấu và chiến thắng oanh liệt chống quân Mông – Nguyên. – Hai câu cuối suy tư về trách nhiệm của bản thân trước nền hoà bình, độc lập lâu dài của dân tộc. 2. Chiến thắng hào hùng của dân tộc Hai câu thơ đầu đã ghi lại trận thủy chiến dữ dội diễn ra trên Sông Hồng Đoạt sáo Chương Dương độ Cầm hồ Hàm Tử Quan Dịch nghĩa là Cướp giáo giặc ở bến Chương Dương Bắt quân Hồ ở cửa Hàm Tử Bằng phép liệt kê và phép đối, Trần Quang Khải đã làm nổi bật hai sự kiện lịch sử quan trọng. Đó là trận chiến diễn ra tại bến Chương Dương và cửa Hàm Tử. Thực ra, chiến thắng tại cửa Hàm Tử diễn ra trước 4 – 1285. Và hai tháng sau 6 – 1285 là chiến thắng Chương Dương. Như chúng ta đã biết, ở trận Hàm Tử, Trần Nhật Duật là người chỉ huy trực tiếp trận đánh. Còn trận đánh ở bến Chương Dương, Trần Quang Khải thống lĩnh ba quân trực tiếp chỉ huy giành thắng lợi giòn giã. Và sau đó, trong niềm vui chiến thắng, ông và quân lính phò giá vua về kinh thành Thăng Long. Chính trong niềm vui chiến thắng cộng hưởng cùng niềm vui được phò giá vua về kinh đã lay động tâm hồn thi sĩ của vị tướng văn võ toàn tài nên trong phút ngẫu hứng, Trần Quang Khải đã nhắc tới trận Chương Dương trước rồi mới hồi tưởng lại chiến thắng giòn giã hai tháng trước đó. Hai câu thơ ngắn gọn nhưng đã gợi lên cả một không khí chiến đấu vô cùng dũng cảm, quyết liệt của quân dân ta. Cụm từ “đoạt sáo” cướp giáo và “cầm Hồ” bắt quân Hồ đặt ở vị trí đầu câu như một nốt nhấn về chiến công oanh liệt của quân và dân Đại Việt ta. Trong nguyên tác, Trần Quang Khải sử dụng từ “đoạt” – nghĩa gốc là lấy hẳn về cho mình qua đấu tranh với người khác. Sử dụng cụm từ “đoạt sáo”, nhà thơ muốn nhấn mạnh và ca ngợi chiến thắng chính nghĩa của quân ta. Nhưng bản dịch lại là “cướp giáo” đã làm giảm bớt đi phần nào vẻ đẹp chiến công của ta. Còn ở cửa Hàm Tử, Trần Nhật Duật bắt sống tướng Toa Đô. Trong hai trận đánh, hàng vạn quân giặc bị tiêu diệt, bị bắt làm tù binh. Lời thơ không hề nói đến cảnh chết chóc nơi chiến trận mà chỉ nhắc đến hai hành động “đoạt sáo” và “cầm Hồ”. Cách nói nhẹ nhàng nhưng đã nhấn mạnh mục đích chiến đấu của quân dân ta. Chúng ta chỉ muốn giành lại chủ quyền, độc lập của dân tộc, đánh đuổi ngoại xâm, bảo vệ nền hoà bình của đất nước. Chiến công tiếp nối chiến công, niềm vui dồn dập như những nốt nhạc vui trong khúc ca khải hoàn. Kinh thành Thăng Long hoàn toàn giải phóng. Quân xâm lược bị quét sạch khỏi đất nước ta. Đó là những ngày tháng vinh quang của dân tộc. Mùa hè năm Ât Dậu 1285 là mùa hè mà niềm vui trào dâng sông núi. Cảm hứng yêu nước dạt dào trong những vần thơ hùng tráng mang phong vị anh hùng ca. 3. Khát vọng thái bình thịnh trị muôn thuở của dân tộc Đại Việt Hai câu thơ cuối, âm điệu thơ như lắng xuống. Tác giả nghĩ về tương lai đất nước trong ngày mai thanh bình Thái bình tu trí lực, Vạn cổ thủ giang san. Dịch nghĩa Thái bình rồi nên dốc hết sức lực Muôn đời vẫn có non sông này Nhà thơ như tự nhắn nhủ với chính mình. Nhiệm vụ trước mắt là nhiệm vụ lâu dài “Thái bình tu trí lực”. Sau chiến thắng vang dội, sau niềm vui của khúc ca khải hoàn là nhiệm vụ đầy khó khăn trước mắt. Chúng ta đừng ngủ say trong chiến thắng mà quên nhiệm vụ của thời bình. Mỗi người con dân Đại Việt phải cố gắng đem hết sức mình ra để xây dựng đất nước. Đất nước đã sạch bóng ngoại xâm, một viễn cảnh thái bình thịnh trị đang mở ra, Trần Quang Khải nhắc mình nêu cao tinh thần trách nhiệm, cố gắng “tu trí lực”, tức là rèn luyện, tu dưỡng tài năng, sức lực của mình. Đồng thời, ông động viên mọi người dân gắng sức, đồng lòng, phát huy thành quả sau chiến thắng để xây dựng đất nước thanh bình, bền vững lâu dài. Câu thơ kết “Vạn cổ thử giang san” Muôn đời vẫn có non sông này vừa chỉ ra cái đích cuối cùng là bảo vệ nền hoà bình, thịnh trị của non sông Đại Việt vừa bày tỏ lòng mong muốn, niềm khao khát mãnh liệt về một tương lai sáng muôn đời của dân tộc. Phò giá về kinh xứng đáng là khúc ca khải hoàn đầu tiên trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. * Bài thơ đã thể hiện hào khí chiến thắng và khát vọng thái bình thịnh trị muôn đời của dân tộc ta ở thời đại nhà Trần. Đồng thời qua đó, bài thơ cũng thể hiện tình yêu đất nước mãnh liệt, niềm tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm của tác giả đối với tương lai đất nước. Thống kê tìm kiếmcam nghi ve bai pho gia ve kinhphat bieu cam nghi ve bai tho pho gia ve kinhcảm nghĩ bài phó giá về kinhhttps//baigiaihay com/cam-nghi-ve-bai-tho-pho-gia-ve-kinh-cua-tran-quang-khai html
cảm nghĩ bài phó giá về kinh