Tại Lạng Sơn hiện có 7 dân tộc anh em: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Hoa, Mông và Sán Chay (hay còn gọi là Cao Lan, Sán Chỉ). Những làn điệu dân ca của các dân tộc đã cùng hòa quyện tạo nên bức tranh nghệ thuật dân gian đặc sắc của xứ Lạng.
Cánh thuyền buồm Trung Hiếu (忠孝) này ngày sau được dùng làm huy hiệu và biểu tượng việc tái chiếm Moncay và sáng lập Khu Tự Trị Nùng Hải Ninh (1,2). Nhờ địa thế thuận lợi, đại quân Vòng-A-Sáng đánh đâu thắng đó. Do thời cuộc nhiễu nhương, dân lành khổ sở, nay có
DÂN TỘC NÙNG 01/08/2006 Dân tộc Nùng có gần khoảng 706.000 người, họ sống tập trung ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Thái, Hà Bắc, Tuyên Quang. Người Nùng gồm có các nhóm: Xuồng, Giang, Nùng An, Nùng Lòi, Phàn Sinh, Nùng Cháo, Nùng Inh, Quý Rịn, Nùng Dín, Khen Lài. Tiếng nói của người Nùng rất gần với tiếng Tày và thuộc hệ ngôn ngữ Tày-Thái.
Hàng năm, cứ vào mùng 1, mùng 2 Tết Nguyên đán và một số dịp đặc biệt như ngày hội xuống đồng, tết Trung thu, lễ hội mùa xuân, lễ vào nhà mới…, bà con các dân tộc Tày, Nùng ở Lạng Sơn lại tưng bừng mở hội múa sư tử mèo. Hoạt động này chủ yếu được biểu diễn tại các huyện Cao Lộc, Lộc Bình, Văn Lãng, Văn Quan, Bình Gia và Tràng Định.
Tục vào nhà mới, cưới hỏi của người dân tộc Nùng Phàn Slình ở Lạng Sơn như thế nào? Thoidai | 24/04/2019 10:04. Người Nùng có một nền văn hóa rất phong phú và đa dạng với một kho tàng các loại thơ ca, nhạc, múa, truyện cổ tích thần thoại và các lễ hội Ngoài ra cách
71 Lượt thích, 11 Bình luận. Video TikTok từ Người Vận Chuyển 12 (@giovotinhhh): "Nùng lạng sơn chào 54 dân tộc ae trên mọi miền tổ Quốc #xuhuong #dantocvietnam #lạngsơn #nunglangson". nhạc nền - FB:Tiến LS.
u4Hb.
Dân tộc Tày tỉnh Lạng Sơn sinh sống thành từng cụm dân cư, thành từng làng, từng bản từ lâu đời. Người dân dựng nhà ở những sườn đồi thoai thoải hoặc những bãi đất,gò đồi ven sông. Đời sống người dân chủ yếu bằng nghề làm ruộng, trồng lúa nương, trồng ngô khoai sắn. Dân tộc Tày Lạng Sơn nói chung và cư dân Tày vùng núi Mẫu Sơn nói riêng đều có những nét tương đồng về tín ngưỡng lập miếu thờ cúng thổ công, thổ địa. Với quan niệm rằng mỗi vùng đất dù nhỏ bé hay rộng lớn đều có một vị thần cai quản về vạn vật tự nhiên, về sự sống và mọi sinh hoạt của từng gia đình cư trú trên vùng đất thần mà dân làng thờ phụng, tôn làm thần bảo trợ, có thể là thần đất, thần cây, thần đá, thần núi, thần sông. Có vùng dân xây miếu thờ người có công khai phá lập nên làng bản và bảo vệ dân làng, sau khi mất được người dân tôn làm thần, xây miếu thờ thần thành hoàng. Phục dựng lễ cúng của người Tày cổ trên núi Mẫu Sơn Cư dân vùng Mẫu Sơn tỉnh Lạng Sơn phần lớn là dân tộc Tày, dân tộc Nùng và dân tộc Dao. Dân tộc Nùng sinh sống chủ yếu ở ba xã Hải Tiến, Cao Lâu, Xuất Lễ. Làng bản người Nùng xưa thường được xây dựng theo hình vành khuyên theo một hệ thống phòng thủ rất chắc chắn. Các ngôi nhà trình tường được xây dựng ở giữa, xung quanh làng có đắp hệ thống tường bao quanh bằng đất nện, hoặc bằng đá xếp. Người Nùng thường sống chung nhiều thế hệ trong một gia Nùng có làn điệu hát sli Sloong hàu lưu truyền đến ngày nay. Dân tộc Dao sinh sống ở những sườn núi cao thuộc xã Mẫu Sơn, xã Công Sơn huyện Cao Lộc và xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình. Dân tộc Dao vùng Mẫu Sơn đến nay vẫn giữ được những phong tục tập quán truyền thống về trang phục, nếp sống và có tín ngưỡng thờ cúng riêng biệt, thể hiện tính tín ngưỡng cộng đồng cao là miếu thờ thần trên đỉnh núi Phặt Chỉ cùng với những nghi thức lễ độc đáo của người Dao. Dân tộc Tày sinh sống ở địa bàn thấp dưới chân núi, sườn đồi, ven đường giao thông thuộc xã Gia Cát huyện Cao Lộc và các xã Xuân Lễ, Bằng Khánh, Xuân Mãn, Hữu Khánh, Yên Khoái. Đời sống kinh tế cư dân Tày tương đối ổn Tày dễ tiếp thu và hòa nhập với văn hóa cộng đồng. Người Tày rất ít khi mặc quần áo dân tộc, nếu có chỉ còn những người già từ 70 tuổi trở lên còn giữ được những bộ quần áo ngày xưa, chỉ mặc vào những ngày cưới, ngày lễ hội. Dân tộc Tày vùng Mẫu Sơn là cư dân bản địa, Có những dòng họ sinh sống từ rất lâu đời, như các dòng họ Hà, họ Vi, họ Nông, họ Hoàng. Nhà ở xưa được xây dựng bằng bùn đất đỏ đóng khuôn tường dày từ 60- 80 cm còn gọi là nhà trình tường. Tường nhà được đóng kiến trúc theo kiểu pháo đài, Cửa chính được đóng thành hai lớp, lớp ngoài bằng gỗ chắc dày, có then ngang ốp xuống, lớp cửa trong bằng trấn song gỗ tròn to chắc chắn. Gian ngoài hai bên là gường ngủ, chính giữa là nơi tiếp khách, phía trên tường được đóng thành khuôn lui sâu khoảng 1m làm ban thờ tổ tiên. Gian trong một bên là bếp, một bên là phòng ngủ. Trần nhà làm bằng đất trộn rơm, cốt là thanh tre già có tác dụng phòng cháy rất nhà lợp ngói âm dương. Nhà trình tường có tác dụng phòng vệ, chống trả được người ngoài xâm nhập. Ấm vào mùa đông, mát lạnh vào mùa hè. Kiến trúc nhà trình tường cũng là một nét đặc trưng của người dân vùng biên ải, ngày nay nhà trình tường đã bị mai một dần, thay thế bằng nhà xây gạch ngói hoặc nhà cao tầng. Ở xã Gia Cát huyện Cao Lộc chỉ còn 5 ngôi nhà trình tường cổ còn giữ được. Riêng ở xã Yên Khoái người dân vẫn ở còn đến 30% ngôi nhà trình tường. Kiến trúc nhà trình tường, làng xây dựng hình vành khuyên khu vực vùng Mẫu Sơn cần đưa vào những tua du lịch. Về tín ngưỡng, dân tộc Tày vùng Mẫu Sơn mang đậm tín ngưỡng dân gian bản địa, ngoài tục thờ cúng tổ tiên trong nhà, người dân xã Gia Cát huyện Cao Lộc còn lập chùa thờ Phật tại chùa Bắc Nga có tên chữ là "Tiên Nga Tự".Theo truyền thuyết Chùa Tiên Nga trước vốn thờ thần tiên sau rước Phật vào thờ. Ở hậu cung còn có phiến đá khắc chữ thập nhị Tiên Nga. Chùa Bắc Nga nổi tiếng với lễ hội du xuân ngày 15 tháng giêng, thu hút hàng vạn người đến chùa cầu an và thưởng thức đặc sản lợn quay, mía mềm vùng Gia Cát. Từng thôn bản, người Tày còn lập miếu thờ các vị thần linh, tiếng Tày gọi là Thó tỳ. Tại Viện Nghiên cứu Hán nôm hiện còn tư liệu lưu trữ sách viết về "Tục lệ và xã chí" của hai xã Hữu Khánh và Yên Khoái trước năm 1920, cuốn sách đã phản ánh chân thực về bản sắc, tín ngưỡng phong tục tập quán của cư dân thời kỳ đó. Trước kia điều đầu tiên trong phong tục tập quán là tế lễ thần linh. Thần linh ở đây là thần núi, thần cây, thần đá, thần nông được người dân xây miếu thờ và tế lễ vào những dịp đầu năm, cuối năm. Đến nay khi đi qua những bản Lìm, Sa Kao, Nà Bó, Pò Cại ở xã Gia Cát huyện Cao lộc. Bản Lầy, Phiêng Phúc xã Xuân lễ; Bản Tẳng, Nà Ngần, Kéo Mật, Pò Thó, Pò Lục, Khòn Khoang thuộc xã Bằng khánh; Bản Khoai, Pác Tẳng, Pác Mạ, Nà Quân, Nà Phát xã Yên khoái... chúng ta còn thấy thấp thoáng Miếu thờ thổ công ở đầu thôn bản. Ở vùng núi thôn Nặm Pịa xã Mẫu Sơn huyện Lộc Bình hiện nay còn dấu tích ngôi đền cổ thờ thần núi và nhân thần. Ngôi đền cổ này theo đánh giá của nhà sử học giáo sư Trần quốc Vượng đây là ngôi đền của người Tày cổ vào khoảng thế kỷ X. Trải qua nhiều thế kỷ, sự thay đổi của môi trường, lịch sử xã hội...đến thế kỷ XIX người dân lập miếu mời các vị thần trên đền cổ về thờ ở bản Khoai xã Yên khoái . Miếu thờ thần linh thổ công thường được xây dựng ở vị trí cao ráo, lưng tựa núi, miếu ẩn mình dưới gốc cây đa, cây si, cây gạo hoặc những cây cổ thụ. Hướng miếu thường nhìn ra ngã ba đường, sông suối, hoặc ở nơi đầu bản , nhìn ra nơi con người qua lại. Miếu dựng đơn giản chỉ bằng bốn cột gỗ, lợp mái tranh, hoặc lợp ngói âm dương, Bên trong miếu kê tấm ván, hoặc một tảng đá phẳng trên đặt bát hương. Miếu được dán giấy đỏ trong ban thờ và ngoài cửa. Những làng bản đông dân cư, miếu thờ được xây cất cẩn thận bằng trình tường, gạch, lợp ngói. Hàng năm tuần tự vào dịp lễ tết được quy định như mùng 15 tháng giêng; 2 tháng 2 âm lịch; mùng 3 tháng 3; mùng 5 tháng năm; mùng 6 tháng 6; 15 tháng 7; 15 tháng 8; mùng 6 tháng 10 và 23 tháng chạp người dân lên miếu làm lễ cúng thổ công. Nhất là ngày 2 tháng 2 âm lịch hàng năm là ngày cúng thần linh thổ công, các gia đình đều sắm lễ lên miếu cúng thần. Đồ lễ thường là con gà luộc, chai rượu trắng, bánh chưng, thịt lợn luộc, các loại rau sào... người đến trước kẻ đến sau, thầy mo làm lễ khấn trình thần linh với ước nguyện cầu xin thần linh bảo trợ, phù hộ cho một năm mới gia đình, làng xóm, người người từ con trẻ đến người già được khỏe mạnh, cửa nhà bình an. Gia đình chăn nuôi lợn gà, trâu bò ... được mau lớn, sinh sôi đầy đàn. Lúa ngô khoai sắn... mùa nối vụ bội thu, cuộc sống no đủ hạnh phúc. Khấn lễ xong với một niền tin tưởng thần linh đã chấp nhận lời thỉnh cầu của mình, mọi người bưng lễ ra trước miếu, cùng nhau uống rượu, thụ lộc vui vẻ. Xây chùa thờ Phật, lập đền, miếu thờ thổ công thần linh là một nét đẹp mang tính nhân văn trong phong tục tập quán của người Tày vùng núi Mẫu sơn. Tín ngưỡng thờ thổ công thần linh mang tính trách nhiệm, cộng đồng cao của người dân thôn bản trong những nghi thức ngày lễ tết. Mỗi ngôi miếu ở từng thôn bản đều có những giai thoại, truyền thuyết mang dấu ấn, lịch sử nguồn gốc về những vị thần được dân làng tôn vinh lập miếu thờ. Tìm hiểu được nguồn gốc của từng vị thần được thờ trong từng ngôi miếu sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự hình thành địa bàn cư dân, dân tộc. Hơn nữa từ xưa tới nay, trong đời sống con người luôn luôn gặp những khó khăn về thiên tai dịch họa trong lao động sản xuất, những nỗi đau vì bệnh tật và những điều ngang trái mà con người ta không tự giải quyết được, người dân thường lên miếu lễ, khẩn cầu các vị thần linh giải thoát phù trợ cho tai qua nạn khỏi, mọi sự được bình an. Điều này tuy là không tưởng âu cũng là con người có niềm tin ngoài cõi hư vô. Hệ thống tín ngưỡng chùa, đền cổ, miếu thờ thổ công của dân tộc Tày vùng núi Mẫu sơn rất có giá trị để các nhà khoa học nghiên cứu về tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc. Là một hệ thống tín ngưỡng thờ Phật, thờ Thần để các du khách có niềm tin, có tâm linh đến thăm quan, hành lễ. Để có một tua du lịch tín ngưỡng cần phải nghiên cứu, lập hệ thống danh sách, lịch sử nguồn gốc của từng ngôi miếu trong từng thôn bản giới thiệu với khách du lịch vùng núi Mẫu Sơn. Trung tâm Thông tin Xúc tiến du lịch Lạng Sơn
Dân tộc Nùng có tỷ lệ 42,9% dân số tỉnh Lạng Sơn, là dân tộc có tỷ lệ cao nhất, sinh sống khắp tỉnh. Hiện ở Lạng Sơn có 3 nhóm dân tộc Nùng gồm Nùng Cháo, Nùng Inh, Nùng Phàn Slình Nùng Phàn Slình Cúm Cọt, Nùng Phàn Slình Hua Lài và Nùng Phàn Slình áo dài. Mỗi nhóm đều có sự trang trí trên trang phục khác nhau, ví dụ như dân tộc Nùng Phàn Slình thường có những đường chỉ nổi và thêu sặc sỡ phần cổ và phần vạt áo, nhưng đối với dân tộc Nùng Cháo trang phục lại được thêu với phần chỉ chìm kín đáo. Đa phần trang phục của dân tộc Nùng thiên về tạo dáng với phần thân áo ngắn được xẻ tà và quần may rộng rãi. Ngoài ra, trên trang phục của phụ nữ Nùng còn phải kể tới một số đồ trang sức làm bằng kim loại đeo trên người như vòng tay, vòng cổ, hoa tai…Trang phục nam của các nhánh dân tộc Nùng cơ bản là giống nhau. Kiểu dáng áo ngắn, may sát người, tay áo dài và khá rộng, cổ áo khoét tròn, áo có 7 cúc tiếng Nùng gọi là chất kháu và thường có 2 túi. Màu sắc chủ đạo là màu chàm, đen. Quần được cắt may theo kiểu chéo gọi là tải dáng, ống quần rộng, đai quần được giữ bằng chun. Bộ trang phục của người Nùng Phàn Slình Cúm Cọt được làm từ vải nhuộm chàm, ít hoa văn. Để bộ trang phục của mình nổi bật, Người phụ nữ Nùng Phàn Slình Cúm Cọt thêu chỉ màu và các hạt bạc nhỏ lên chiếc khăn đội đầu. Phụ nữ Nùng Phàn Slình Cúm Cọt thường mặc áo 5 thân màu chàm bên ngoài, bên trong sẽ mặc áo kẻ xanh hoặc kẻ đỏ, cổ áo có đính tua chỉ màu xanh, phần tua chỉ này sẽ được lộ ra bên ngoài khi mặc để tạo điểm nhấn cho chiếc áo màu chàm. Quần thường rộng khổ, gấu quần không thêu thùa, quần đũng chân què, cặp lá tọa. Khi mặc quấn dây lưng quanh bụng, hai đầu dắt mối ở hai bên hông. Phụ nữ dân tộc Nùng Phàn Slình Cúm Cọt Tên gọi Nùng Phàn Slình Hua Lài nghĩa là Nùng Phàn Slình Đầu Chấm Trong tiếng Nùng, “Hua” nghĩa là “Đầu”, “Lài” nghĩa là “Chấm”. Tên gọi này được bắt nguồn từ chiếc khăn đội đầu của người phụ nữ Nùng. Trên nền khăn màu chàm, người phụ nữ thêu những hạt màu trắng theo hàng tạo nên những đốm nhỏ nổi bật. Mỗi lần đội lên đầu, người phụ nữ được ví như đang đội trên đầu một bầu trời sao. Áo phụ nữ thường 4 thân hoặc 5 thân màu chàm. Áo ngắn được may rộng cả phần thân và tay, giúp người mặc thoải mái hơn trong đời sống sinh hoạt hằng ngày hoặc khi lao động sản xuất. Cổ tay áo và phía trước ngực được đắp thêm một miếng vải khác màu tạo nên nét đặc sắc cho bộ trang phục. Quần của phụ nữ may kiểu đũng chéo chân què, cạp lá tọa. Khi mặc, dùng giải rút luồn vào phần cạp quần và buộc thắt lại. Ngày nay, quần đũng chéo dần được thay thế bằng quần lụa hoặc vải sa-tin gấp nếp 2 ống tạo đường nét mềm mại hơn. Phụ nữ dân tộc Nùng Phàn Slình Hua Lài Sau khi dệt những mảnh vải bằng khung cửi gỗ, người dân tộc Nùng lấy lá và thân cây chàm về ngâm vào chum nước khoảng một tháng cho đến khi nhàu nát. Sau đó lọc lấy nước rồi trộn thêm một ít vôi, nhân hạt đào phai giã nát tạo thành hỗn hợp nước màu xanh lam đậm hay còn gọi là màu chàm. Xưa kia, Việc thêu thùa với con gái người Nùng rất được coi trọng. Nhìn vào từng đường kim mũi chỉ có thể biết được đâu là cô gái khéo léo, đảm đang. Khi về nhà chồng họ sẽ mang theo chăn, gối tự làm và coi đó như “của hồi môn” cho hạnh phúc lứa đôi. Họa tiết thổ cẩm được phối hợp giữa nhiều màu chỉ, thêu riêng từng màu. Tất cả họa tiết thổ cẩm đều được thêu tay trên nền vải chàm truyền thống. Đó là sự cách điệu họa tiết hình hoa lá, mặt trời... Trên những chiếc áo chàm, phần khuy áo được làm thủ công, đây là công đoạn mất nhiều thời gian nhất. Phải tốn hơn 3 ngày mới khâu xong hàng khuy áo đều đặn, đẹp mắt. Tất cả họa tiết thổ cẩm được thêu trên nền vải chàm, họa tiết đối xứng. Ngày nay, dù cuộc sống hiện đại và bận rộn hơn trước nhưng người dân tộc Nùng ở một số huyện trên địa bàn tỉnh vẫn mặc trang phục truyền thống trong đời sống sinh hoạt hàng ngày. Đó là cách để gìn giữ, bảo tồn những nét đẹp trong văn hóa và trang phục của người dân tộc Nùng. Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch Lạng Sơn
Trong bài viết này, các bạn hãy cùng Địa Ốc Thông Thái tìm hiểu một cách chi tiết về dân tộc Nùng nhé. Các nội dung bao gồm phong tục tập quán, hoạt động sản xuất, văn hóa, trang phục, tổ chức cộng đồng, tập tục cưới xin, sinh đẻ, ma chay của người Nùng. Tổng quan về người Nùng Tên gọi khác Xuồng, Giang, Nùng An, Nùng Lòi, Phần Sình, Nùng Cháo, Nùng Inh, Quý Rịn, Nùng Dín, Khen Lài. Ngôn ngữ Tiếng Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái ngữ hệ Thái – Ka ai, cùng nhóm với tiếng Tày, tiếng Thái, và nhất là tiếng Choang ở Trung Quốc… Dân số người Tổng điều tra dân số 2019. Cư trú Sống tập trung ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Thái, Hà Bắc, Tuyên Quang. Lịch sử Người Nùng phần lớn từ Quảng Tây Trung Quốc di cư sang cách đây khoảng 200-300 năm. Hình ảnh dân tộc Nùng trong trang phục truyền thống. Tác giả Nguyễn Minh Ngọc. Trang phục truyền thống của dân tộc Nùng ặc điểm trang phục ít có biểu hiện đặc sắc về phong cách tạo hình áo nam giống nhiều dân tộc khác, áo nữ là loại năm thân màu chàm, quần chân què ít trang trí. iểm khác nhau giữa các nhóm, một trong những biểu hiện là cách đội khăn và các loại khăn trang trí khác nhau đôi chút. Hình ảnh dân tộc Nùng trong bộ tem “Cộng đồng các dân tộc Việt Nam” phát hành năm 2005. Bộ tem đã được ghi vào sách kỷ lục Việt Nam là bộ tem lớn nhất từ trước tới nay. Nhà Tày – Nùng có những đặc trưng riêng không giống các cư dân khác trong cùng nhóm ngôn ngữ Tày – Thái. Bộ khung nhà Tày – Nùng cũng được hình thành trên cơ sở các kiểu vì kèo. Có nhiều kiểu vì kèo khác nhau, nhưng chủ yếu là bắt nguồn từ kiểu vì kèo – ba cột. ể mở rộng lòng nhà người ta thêm một hoặc hai cột vào hai bếp vì kèo ba cột để trở thành vì kèo năm hoặc bảy cột. Song không có vì kèo nào vượt quá được bảy cột. Bộ khung nhà chúng ta dễ nhận ra hai đặc trưng Ô vì kèo, đứng trên lưng xà, kẹp giữa hai cột có một trụ ngắn hình “quả bí” hay quả dưa nghé qua, đầu đấu vào thân kèo. ệ liên kết các cột trong một vì kèo hay giữa các vì kèo với nhau, người ta không dùng các đoạn xà ngắn mà dùng một thanh gỗ dài xuyên qua thân các cột. Mặt bằng sinh hoạt của nhà Tày – Nùng trên cơ bản là giống nhau mặt sàn chia làm hai phần một dành cho sinh hoạt của nữ, một dành cho sinh hoạt của nam. Các phòng và nơi ngủ của mọi thành viên trong nhà đều giáp vách tiền và hậu. Nói đến nhà Tày – Nùng có lẽ không nên bỏ qua một loại hình nhà khá đặc biệt, đó là “nhà phòng thủ”. Thường là có sự kết hợp gữa nhà đất và nhà sàn đúng hơn là nhà tầng. Tường xây gạch hoặc trình rất dày 40-60cm để chống đạn. Trên tường còn được đục nhiều lỗ châu mai. Có nhà còn có lô cốt chiến đấu. Loại nhà này chỉ có ở Lạng Sơn gần biên giới phía bắc để phòng chống trộm cướp. Tập tục khi làm nhà mới Làm nhà mới là một trong nhiều công việc hệ trọng. Vì thế khi làm nhà người ta rất chú ý tới việc chọn đất, xem hướng, chọn ngày dựng nhà và lên nhà mới với ước mong có cuộc sống yên vui, làm ăn phát đạt. Hoạt động sản xuất – kinh tế Nguồn sống chính của người Nùng là cây lúa và cây ngô. Họ kết hợp làm ruộng nước ở các vùng khe dọc với trồng lúa cạn trên các sườn đồi. ồng bào Nùng còn trồng nhiều cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm như quýt, hồng… Hồi là cây quí nhất của đồng bào, hàng năm mang lại nguồn lợi đáng kể. Các ngành nghề thủ công đã phát triển, phổ biến nhất là nghề dệt, tiếp đến là nghề mộc, đan lát và nghề rèn, nghề gốm. Người Nùng làm việc rất thành thạo nhưng do cư trú ở những vùng không có điều kiện khai phá ruộng nước cho nên nhiều nơi họ phải sống bằng nương rẫy là chính. Ngoài ngô, lúa họ còn trồng các loại củ, bầu bí, rau xanh…Họ biết làm nhiều nghề thủ công dệt, rèn, đúc, đan lát, làm đồ gỗ, làm giấy dó, làm ngói âm dương… Nhiều nghề có truyền thống lâu đời nhưng vẫn là nghề phụ gia đình, thường chỉ làm vào lúc nông nhàn và sản phẩm làm ra phục vụ nhu cầu của gia đình là chính. Hiện nay, một số nghề có xu hướng mai một dần dệt, một số nghề khác được duy trì và phát triển rèn. Ở xã Phúc Sen huyện Quảng Hoà, Cao Bằng rất nhiều gia đình có lò rèn và hầu như gia đình nào cũng có người biết làm nghề ở vùng người Nùng phát triển. Người ta thường đi chợ phiên để trao đổi mua bán các sản phẩm. Thanh niên, nhất là nhóm Nùng Phàn Slình, thích đi chợ hát giao Ở nhiều vùng người Nùng ăn ngô là chính. Ngô được xay thành bột để nấu cháo đặc như bánh đúc. Thức ăn thường được chế biến bằng cách rán, xào, nấu, ít khi luộc. Nhiều người kiêng ăn thịt trâu, bò, chó. Phương tiện vận chuyển Các phương thức vận chuyển truyền thống là khiêng, vác, gánh, mang, xách. Hiện nay ở một số địa phương người Nùng sử dụng xe có bánh lốp do các vật kéo để làm phương tiện vận chuyển. Tổ chức cộng đồng người Nùng ồng bào Nùng sống thành từng bản trên các sườn đồi. Thông thường trước bản là ruộng nước sau bản là nương và vườn cây ăn quả. Quan hệ xã hội Trước Cách mạng tháng Tám, xã hội người Nùng đã đạt đến trình độ phát triển như ở người Tày. Ruộng và nương thâm canh đã biến thành tài sản tư hữu, có thể đem bán hay chuyển nhượng. Hình thành các giai cấp địa chủ và nông dân. Văn hóa nghệ thuật Người Nùng thích ăn các món xào mỡ lợn. Món ăn độc đáo và được coi trọng là sang trọng của đồng bào là “Khau nhục”. Tục mời nhau uống rượu chéo chén có lịch sử từ lâu đời, nay đã thành tập quán của đồng bào. ồng bào Nùng có một kho tàng văn hóa dân gian phong phú và có nhiều làn điệu dân ca đậm đà màu sắc dân tộc. Tiếng Sli giao duyên của thanh niên Nùng Lạng Sơn hòa quyện vào âm thanh tự nhiên của núi rừng gây ấn tượng sâu sắc cho những ai đã một lần lên xứ Lạng. Then là làn điệu dân ca tổng hợp có lời, có nhạc, có kiểu trang trí, có hình thức biểu diễn đã làm rạo rực tâm hồn bao chàng trai Nùng khi ở xa quê hương. Lễ hội nổi tiếng thu hút được nhiều người, nhiều lứa tuổi khác nhau là hội “Lùng tùng” còn có nghĩa là hội xuống đồng được tổ chức vào tháng giêng hàng năm. Phong tục cưới hỏi của người Nùng Nam nữ được tự do yêu đương, tìm hiểu và khi yêu nhau họ thường trao tặng nhau một số kỷ vật. Các chàng trai tặng các cô gái đòn gánh, giỏ đựng con bông hắc lì và giỏ đựng con sợi cởm lót. Còn các cô gái tặng các chàng trai áo và túi thêu. Tuy nhiên hôn nhân lại hoàn toàn do bố mẹ quyết định, trên cơ sở hai gia đình có môn đăng hộ đối không và lá số đôi trai gái có hợp nhau hay không. Nhà gái thường thách cưới bằng thịt, gạo, rượu và tiền. Số lượng đồ dẫn cưới càng nhiều thì giá trị của người con gái càng cao. Việc cưới xin gồm nhiều nghi lễ, quan trọng nhất là lễ đưa dâu về nhà chồng. Sau ngày cưới cô dâu vẫn ở nhà bố mẹ đẻ cho đến sắp có con mới về ở hẳn nhà chồng. Tục sinh đẻ của người Nùng Ngoài lễ đặt bàn thờ bà mụ và lễ mừng trẻ đầy tháng ở một số nhóm Nùng còn tổ chức lễ đặt tên cho trẻ khi chúng đến tuổi trưởng thành. Phong tục tang ma của người Nùng Có nhiều nghi lễ với mục đích chính là đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Phong tục thờ cúng của người Nùng Thờ tổ tiên là chính. Bàn thờ đặt ở nơi trang trọng, được trang hoàng đẹp, ở vị trí trung tâm là bức phùng slằn viết bằng chữ Hán cho biết tổ tiên thuộc dòng họ nào. Ngoài ra còn thờ thổ công, Phật bà Quan âm, bà mụ, ma cửa, ma sàn, ma ngoài sàn phi hang chàn… và tổ chức cầu cúng khi thiên tai, dịch bệnh… Khác với người Tày, người Nùng tổ chức mừng sinh nhật và không cúng giỗ. Phong tục ngày tết Người Nùng ăn tết giống như ở người Việt và người Tày. Lịch của người Nùng Người Nùng theo âm lịch. Chữ viết và học tập của người Nùng Có chữ nôm Nùng dựa theo chữ Hán, đọc theo tiếng Nùng và chữ Tày – Nùng trên cơ sở chữ cái La-tinh. Lễ hội và vui chơi của người Nùng Trong các ngày tết, ngày lễ, ngày hội thường có một số trò chơi như tung còn, đánh cầu lông, đánh quay, kéo co… Mang đồ dẫn cưới sang nhà gái.
dân tộc nùng lạng sơn