Nợ công 2022 khoảng 43-44% GDP, nợ CP khoảng 40-41% GDP, nợ vay NN của quốc gia bằng 40-41%, nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của CP, khoảng 18-19% tổng thu ngân sách. Các mức này thấp hơn mức trần và ngưỡng cảnh báo được Quốc hội cho phép. Nghĩa vụ trả nợ của người thừa kế và người được di tặng tài sản thừa kế. Người thừa kế là những người có tên trong di chúc hoặc theo quy đinh của pháp luật có quyền thừa hưởng một phần di sản thừa kế của một người để lại di sản. Bên cạnh việc quy định quyền thì pháp luật cũng quy định nghĩa vụ trả nợ của người thừa kế. "Điều 637. Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. 1. Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác. 2. Văn phòng luật sư tư vấn chia thừa kế tại Huyện Tiên Lữ - Luật sư tư vấn trực tuyến qua hotline 1900 6574 để giải quyết . Skip to content. Tư vấn Pháp luật 24/7 . Hotline: 1900 6574. Tìm kiếm văn bản pháp luật. Luật nghĩa vụ quân sự Và việc trả nợ cho ông B còn dựa trên thứ tự ưu tiên thanh toán, sau khi thực hiện các nghĩa vụ trên, số di sản còn lại bao nhiêu thì anh em bạn mới dùng để trả cho ông B. Theo Điều 683 Bộ luật Dân sự 2005 về thứ tự ưu tiên thanh toán liên quan đến thừa kế thì Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác là một nghĩa vụ tài sản được thanh toán theo thứ tự ưu Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ khoảng 19 - 20% tổng thu NSNN (kế hoạch 5 năm là không quá 25% tổng thu NSNN). Đến cuối năm 2023, nợ công khoảng 44 - 45% GDP, nợ Chính phủ khoảng 41 - 42% GDP, nợ nước ngoài khoảng 41 - 42% GDP, thấp hơn mức trần và ngưỡng cảnh báo 1u5O. Nợ được hình thành khi một người cho vay đồng ý cho người vay vay một lượng tài sản nhất định. Vậy nghĩa vụ trả nợ thay người chết của những người thừa kế được quy định như thế nào? Mục lục bài viết 1 1. Nghĩa vụ trả nợ thay người chết của những người thừa kế 2 2. Người quản lý di sản có được sử dụng di sản để trả nợ cho người chết 3 3. Các khoản nợ của người để lại di sản có được ưu tiên thanh toán trước Thứ tự ưu tiên thanh toán liên quan đến thừa kế Các khoản nợ của người để lại di sản có được ưu tiên thanh toán trước Sau khi một người chết, nhưng người đó vẫn còn một hoặc một số khoản nợ đối với những cá nhân, tổ chức khác thì nghĩa vụ trả khoản nợ đó sẽ do những người hưởng di sản thừa kế của người này thực hiện chi trả trong phạm vi khối di sản đó, nếu như người đó có tài sản để lại. Còn trong trường hợp người đó không có tài sản để lại di sản thì không ai phải có nghĩa vụ chịu trách nhiệm về những khoản nợ đó. Vấn đề này được quy định cụ thể tại Điều 615 Bộ Luật Dân sự 2015 về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, cụ thể như sau – Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ những trường hợp có thỏa thuận khác; – Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo đúng thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại; – Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng sẽ không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; – Trường hợp người thừa kế không phải là cá nhân hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện những nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân. Sau khi mở thừa kế thì những người thừa kế có thể thoả phân chia di sản và thực hiện nghĩa vụ của người để lại di sản. Trường hợp không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết. Theo nguyên tắc những người thừa kế hưởng bao nhiêu phần di sản thì phải thực hiện bấy nhiêu phần nghĩa vụ của người để lại thừa kế. Theo quy định tại khoản 1 Điều 370 Bộ Luật Dân sự 2015 về chuyển giao nghĩa vụ, thì các nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của cá nhân không được chuyển giao. Đó là những nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ nhân thân của người đó và phải do chính họ thực hiện như nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ nuôi dưỡng,…Những nghĩa vụ tài sản mà do hành vi của người để lại di sản làm phát sinh, được chuyển giao cho những người thừa kế. Trường hợp này được coi là chuyển nghĩa vụ do pháp luật quy định. Do vậy, khi người thừa kế nhận di sản, đồng thời nghĩa vụ tài sản của người chết cũng được chuyển cho người thừa kế. Người thừa kế được nhận một phần di sản, cho nên họ phải thực hiện một phần nghĩa vụ tài sản trong phạm vi giá trị phần di sản được nhận. Nếu phần nghĩa vụ vượt quá giá trị phần di sản thừa kế, thì người thừa kế không phải thực hiện phần vượt quá đó. Trường hợp tất cả những người thừa kế được phân chia di sản theo pháp luật hoặc theo di chúc, thì mỗi người sẽ được nhận một phần di sản, đồng thời họ phải tiếp nhận phần nghĩa vụ tương ứng với phần di sản được nhận. Như vậy, vào thời điểm nhận di sản làm phát sinh quyền sở hữu đối với phần di sản đã nhận và người thừa kế có nghĩa vụ thực hiện một phần nghĩa vụ của người để lại di sản. Phần nghĩa vụ này được xác định theo phần tương ứng với di sản được hưởng, do vậy nghĩa vụ của những người thừa kế là nghĩa vụ riêng rẽ. Đối với pháp nhân được hưởng di sản thừa kế theo di chúc thì phải thực hiện nghĩa vụ của người để lại di sản trong phạm vi di sản được hưởng giống như người thừa kế là cá nhân. 2. Người quản lý di sản có được sử dụng di sản để trả nợ cho người chết – Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra; – Trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử ra được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản sẽ tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản; – Trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản lý thì di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý. Đồng thời, tại khoản 2 Điều 615 có quy định trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại sẽ được người quản lý di sản thực hiện theo đúng thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại. Như vậy, sau khi mở thừa kế, người thừa kế chưa thực hiện thủ tục chia di sản thì người quản lý di sản có quyền đại diện cho những người thừa kế trong quan hệ với người thứ ba liên quan đến di sản thừa kế thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho người đã chết trong phạm vi khối di sản, tuy nhiên việc trả nợ cho người đã chết phải được sự đồng ý của tất cả những người được thừa kế và phải tuân theo đúng thỏa thuận của các bên bên được hưởng di sản và bên quản lý di sản và sự thỏa thuận đó phải được lập thành văn bản. Lưu ý rằng, sau khi mở thừa kế, người thừa kế chưa chia di sản mà di sản đó gây thiệt hại cho người khác, thì trách nhiệm bồi thường sẽ xác định như sau – Trường hợp thứ nhất, nếu di sản do người khác đang quản lý, sử dụng để khai thác lợi ích cho mình như người thuê, người mượn mà trong thời hạn thuê, mượn di sản này gây thiệt hại cho người khác thì người đang quản lý, sử dụng di sản phải bồi thường thiệt hại; – Trường hợp thứ hai, di sản được quản lý theo chỉ định trong di chúc mà gây thiệt hại cho người khác, thì cần phải xem xét người quản lý di sản có lỗi hay không. Nếu người quản lý di sản có lỗi thì họ phải bồi thường. Ngược lại, họ không có lỗi thì người quản lý di sản sẽ trích một phần di sản để bồi thường thiệt hại. 3. Các khoản nợ của người để lại di sản có được ưu tiên thanh toán trước Thứ tự ưu tiên thanh toán liên quan đến thừa kế Tại Điều 658 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định rõ các nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán theo thứ tự sau đây – Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng; – Tiền cấp dưỡng còn thiếu; – Chi phí cho việc bảo quản di sản; – Tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ; – Tiền công lao động; – Tiền bồi thường thiệt hại; – Thuế và các khoản phải nộp khác vào ngân sách nhà nước; – Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân; – Tiền phạt; – Các chi phí khác. Các khoản nợ của người để lại di sản có được ưu tiên thanh toán trước Trước khi phân chia di sản cho những người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật thì cần phải thanh toán các nghĩa vụ của người để lại di sản chưa thực hiện khi còn sống hoặc thanh toán các chi phí khác liên quan đến di sản, đến việc thừa kế. Trước khi chia thừa kế thì thanh toán các khoản chi phí theo thứ tự ưu tiên đã nêu ở mục trên, cụ thể – Chi phí mai táng gồm những chi phí cần thiết, hợp lý theo phong tục, tập quán của nhân dân địa phương như là tiền quan tài, tiền thuê các dịch vụ mai táng,….; – Trường hợp người để lại di sản có nghĩa vụ cấp dưỡng cho vợ/chồng, con chưa thành niên sau khi ly hôn hoặc tiền cấp dưỡng cho con người khác theo quyết định/bản án của tòa án mà còn thiếu thì trích từ di sản chuyển cho người được nhận tiền cấp dưỡng đó; – Nếu trong thời hạn bảo quản di sản mà người quản lý di sản đầu tư những chi phí cần thiết để bảo tồn giá trị di sản thì phải thanh toán chi phí đó cho người quản lý di sản; – Trường hợp người để lại di sản khi còn sống có nuôi dưỡng người khác thì cần phải trích một phần di sản dành lại cho người đó; – Đối với tiền công lao động của người làm thuê chưa trả hoặc mới trả một phần thì phải thanh toán cho người lao động; – Nếu người để lại di sản đã gây thiệt hại cho người khác theo hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng mà chưa bồi thường hoặc đã bồi thường nhưng còn thiếu, thì phải chi trả ngay cho người được bồi thường; – Sau các khoản thanh toán cần thiết trên, tiếp theo phải thanh toán các loại tiền thuế chưa nộp như tiền thuế sử dụng đất hoặc các loại thuế khác và các khoản phải nộp khác vào ngân sách nhà nước; – Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân như tiền vay,…; – Cuối cùng phải thanh toán tiền nộp phạt vào ngân sách nhà nước theo quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo quyết định của tòa án. Sau khi thanh toán hết các chi phí mà còn di sản thì di sản sẽ được chia theo di chúc hoặc chia theo pháp luật. Như vậy, căn cứ vào quy định của pháp luật về thứ tự ưu tiên thanh toán liên quan đến thừa kế và qua phân tích ở trên thì các khoản nợ của người để lại di sản sẽ không được thanh toán trước, mà phải thanh toán trước những khoản cần thiết như chi phí mai táng, tiền cấp dưỡng,…. Văn bản pháp luật được sử dụng trong bài viết Bộ Luật Dân sự 2015. Nợ là một thuật ngữ thường được sử dụng trong trường hợp phải thực hiện một nghĩa vụ hoàn trả hay đền bù về tài sản, vật chất. Nợ được hình thành khi một người cho vay đồng ý cho người vay vay một lượng tài sản nhất định. Trong xã hội hiện đại, nợ thường được đi kèm với sự đảm bảo khả năng thanh toán với một mức lãi suất nhất định, tính theo thời điểm… Tuy nhiên, theo pháp luật Việt Nam, nợ lại được định nghĩa như sau Nợ là khoản phải hoàn trả, bao gồm khoản gốc, lãi, phí và chi phí khác có liên quan tại một thời điểm, phát sinh từ việc vay của chủ thể được phép vay vốn theo quy định của pháp luật Việt Nam. 1. Thừa kế khoản nợ là gì? Thừa kế khoản nợ theo quy định tại Điều 615 Bộ luật Dân sự 2015 là khi người vay nợ chết, những người thừa kế vẫn phải trả nợ thay cho họ trong phạm vi di sản mà người chết đó để lại. Điều này cũng đồng nghĩa rằng dù người vay nợ chết thì việc trả nợ vẫn phải được thực hiện. 2. Khoản nợ sẽ được xử lý như thế nào sau khi người vay nợ chết Theo quy định tại Điều 615 Bộ luật Dân sự 2015 thì khi người vay nợ chết, những người thừa kế vẫn phải trả nợ thay cho họ trong phạm vi di sản mà người chết đó để lại. Điều này cũng đồng nghĩa rằng dù người vay nợ chết thì việc trả nợ vẫn phải được thực hiện. Sẽ có hai trường hợp xảy ra lúc này Trường hợp 1 Di sản người chết chưa được phân chia theo khoản 2 Điều 615 Bộ luật Dân sự 2015 Lúc này, tài sản sẽ được giao cho người quản lý di sản trong coi, gìn giữ. Người quản lý di sản theo Điều 616 Bộ luật Dân sự 2015 là những người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra. Trường hợp không có thỏa thuận hoặc di chúc không chỉ định thì người đang chiếm hữu, quản lý di sản đó vẫn được quyền tiếp tục quản lý cho đến khi cử được người quản lý di sản mới. Trường hợp vẫn chưa xác định được ai là người quản lý di sản thì cơ quan Nhà nước sẽ thay mặt quản lý những di sản này. Nghĩa vụ trả nợ lúc này vẫn sẽ được người quản lý di sản thực hiện trong trường hợp có thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại. Trường hợp 2 Di sản người chết đã được phân chia theo khoản 3 Điều 615 Bộ luật Dân sự Trong trường hợp này, mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận Trừ trường hợp các đồng thừa kế có thỏa thuận khác Điều này đồng nghĩa với việc, dù di chúc có quy định rõ ai là người có nghĩa vụ trả hết toàn bộ số nợ. Thì họ cũng chỉ có nghĩa vụ trả nợ trong phạm vi tương ứng với phần di sản mình được nhận. 3. Các tranh chấp nợ và cách giải quyết tranh chấp nợ hiện nay Hiện nay, có hai loại tranh chấp về thừa kế nợ phổ biến, bao gồm Tranh chấp giữa các đồng thừa kế về việc ai có nghĩa vụ trả nợ Tranh chấp giữa chủ nợ và các đồng thừa kế về khoản nợ Cách giải quyết thứ nhất Các bên tổ chức gặp mặt và tiến hành hòa giải, thương lượng. Việc hòa giải, thương lượng dù có thành công hay không thì vẫn nên lập thành Biên bản để lưu trữ lại và sẽ lấy đó làm chứng cứ về sau nếu có xảy ra tranh chấp. Cách giải quyết thứ hai Khởi kiện ra Tòa án Đối với loại tranh chấp thứ nhất Tranh chấp giữa các đồng thừa kế về việc ai có nghĩa vụ trả nợ Tòa án có thẩm quyền giải quyết Căn cứ theo Điều 35 và 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người bị kiện cư trú sẽ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp này. Thời hiệu khởi kiện Bởi vì nghĩa vụ trả nợ phụ thuộc vào phần di sản người thừa kế nhận được. Vậy nên, các trường hợp tranh chấp về việc ai có nghĩa vụ trả nợ này dưới góc độ pháp lý đều được xem là khởi kiện nhằm bác bỏ quyền thừa kế của người khác. Vậy nên, theo khoản 2 Điều 623 thì thời hiệu khởi kiện trong trường hợp này là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hồ sơ nộp Tòa Người khởi kiện nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp huyện, nơi bị đơn cư trú. Kèm theo đơn khởi kiện là các tài liệu, chứng cứ như Di chúc, giấy báo tử, giấy khai sinh, chứng minh nhân dân, hộ khẩu, sổ đỏ,… Tất cả các tài liệu trên đều phải được sao y. Trường hợp lúc nộp đơn mà người khởi kiện thiếu một trong các loại giấy tờ trên thì Tòa án vẫn sẽ nhận đơn và yêu cầu người khởi kiện bổ sung sau. Thời gian giải quyết Theo điểm a khoản 1 và khoản 4 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án dân sự liên quan đến tranh chấp giữa các đồng thừa kế về việc ai có nghĩa vụ trả nợ sẽ được Tòa án giải quyết nhanh nhất trong vòng 4 – 6 tháng. Đối với loại tranh chấp thứ hai Tranh chấp giữa chủ nợ và các đồng thừa kế về khoản nợ Tòa án có thẩm quyền giải quyết Căn cứ theo Điều 35 và 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người bị kiện cư trú sẽ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp này. Thời hiệu khởi kiện Căn cứ khoản 3 Điều 623 Bộ luật Dân sự thì thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Chủ nợ có quyền khởi kiện bất kỳ lúc nào trong khoản thời gian 03 năm này. Hồ sơ nộp Tòa Người khởi kiện nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp huyện, nơi bị đơn cư trú. Kèm theo đơn khởi kiện là các tài liệu, chứng cứ như Hợp đồng vay tài sản, Giấy nhận nợ, chứng minh nhân dân người khởi kiện, hộ khẩu,… Tất cả các tài liệu trên đều phải được sao y. Trường hợp lúc nộp đơn mà người khởi kiện thiếu một trong các loại giấy tờ trên thì Tòa án vẫn sẽ nhận đơn và yêu cầu người khởi kiện bổ sung sau. Thời gian giải quyết Theo điểm a khoản 1 và khoản 4 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án dân sự liên quan đến tranh chấp giữa các đồng thừa kế về việc ai có “nghĩa vụ trả nợ” sẽ được Tòa án giải quyết nhanh nhất trong vòng 4 – 6 tháng. 4. Từ chối thừa kế khoản nợ có được không? Theo quy định tại Điều 615 Bộ luật Dân sự 2015, khi người vay nợ chết, những người thừa kế vẫn phải trả nợ thay cho họ trong phạm vi di sản mà người chết đó để lại. Điều này cũng đồng nghĩa rằng, dù người vay nợ chết, nếu bạn đã nhận tài sản thừa kế thì buộc phải nhận trách nhiệm trả nợ cho người đã khuất trong phạm vi tài sản họ để lại. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết. Vì thế, trong trường hợp này, nếu nghĩa vụ trả nợ lớn hơn tài sản, bạn hoàn toàn có quyền từ chối nhận tài sản thừa kế; đồng thời từ chối thanh toán các nghĩa vụ tài chính của người đã khuất. Theo điều 620 Bộ luật Dân sự, việc từ chối tài sản cần phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết. Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản. Trên đây là một số thông tin về thừa kế khoản nợ. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ 5. Thông tin liên hệ Công ty Luật TNHH MTV TIA SÁNG Địa chỉ Phòng tầng 2 tòa nhà Indochina. Số 4 Nguyễn Đình Chiểu, P. ĐaKao, TP. HCM Số điện thoại Email tiasanglaw Pháp luậtTư vấn Thứ ba, 29/6/2021, 0000 GMT+7 Cha tôi liên quan vụ án hình sự và có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại cho nạn nhân, trả nợ cho người có quyền lợi liên quan. Nhị Vy Nhưng cha tôi đã chết, tôi là người duy nhất được hưởng thừa kế toàn bộ tài sản. Tôi có chịu trách nhiệm hình sự, bồi thường thiệt hại thay cha hay không?Luật sư tư vấnVề trách nhiệm hình sự, khoản 1 điều 2 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, bạn không phải chịu trách nhiệm hình sự thay cha trách nhiệm dân sự, theo khoản 1 điều 615 Bộ luật Dân sự năm 2015, những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận đó, bạn là người duy nhất hưởng tài sản thừa kế của cha thì phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho nạn nhân thay cha mình mức bồi thường trong phạm vi tài sản thừa kế bạn được hưởng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận dụ 1 Bạn hưởng tài sản thừa kế của cha là 10 tỷ đồng và cha bạn có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho nạn nhân 9 tỉ đồng. Khi đó, bạn phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho nạn nhân 9 tỷ đồng. Tuy nhiên, trường hợp cha bạn có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho nạn nhân 11 tỉ đồng thì bạn chỉ có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho nạn nhân 10 tỷ đồng mức bồi thường tối đa bằng số tài sản bạn hưởng thừa kế từ cha.Ví dụ 2 Nếu trước đó cha bạn có vay tiền của người khác 11 tỷ đồng và có thỏa thuận với bạn rằng nếu không may cha bị mất thì bạn được hưởng toàn bộ tài sản của cha và có nghĩa vụ trả 11 tỷ đồng cho chủ nợ thì bạn phải có nghĩa vụ trả nợ 11 tỷ đồng thay cha sư Phạm Thanh HữuĐoàn luật sư TP HCM Có phải trả nợ thay khi không nhận thừa kế không là câu hỏi được nhiều người quan tâm bởi lẽ họ không biết rằng trả nợ thay là trách nhiệm của những ai. Vì vậy, bài viết sau đây sẽ cung cấp cho quý bạn đọc một số quy định của pháp luật thừa kế, về thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại cũng như giải đáp được vấn đề có phải trả nợ do người vay chết khi không nhận di sản thừa kế. Liệu không nhận thừa kế có phải trả nợ thay người chết không? >> Xem thêm Có được nhận thừa kế sau khi bị lừa từ chối nhận Mục LụcXác định những người được thừa kế di sảnThừa kế theo di chúcThừa kế theo pháp luậtQuy định về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lạiNhững người không nhận thừa kếKhông nhận thừa kế thì có phải trả nợ thay người chết không? Việc xác định những người nhận thừa kế sẽ tùy vào từng trường hợp. Trong trường hợp người chết để lại di chúc, việc xác định những người thừa kế cũng như phần di sản thừa kế phụ thuộc chủ yếu vào di chúc; trường hợp không có di chúc, việc xác định người thừa kế sẽ tuân theo quy định của pháp luật thừa kế. Thừa kế theo di chúc Những người thừa kế theo di chúc là những người được người chết phân chia di sản thể hiện theo ý chí trong di chúc. Tuy nhiên, cần lưu ý những người sau đây sẽ vẫn là người thừa kế dù trong di chúc không nhắc đến Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; Con thành niên mà không có khả năng lao động. Thừa kế theo pháp luật Khi không có di chúc, việc xác định người thừa kế sẽ tuận theo quy định của pháp luật, cụ thể là theo hàng thừa kế. Di sản sẽ được phân chia cho một hàng thừa kế duy nhất theo thứ tự ưu tiên là hàng thứ nhất, thứ hai, thứ ba. Theo quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 BLDS 2015, các hàng thừa kế gồm Hàng thừa kế thứ nhất vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Hàng thừa kế thứ hai ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại. Hàng thừa kế thứ ba cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột người chết là cụ nội, cụ ngoại. Quy định về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại Vấn đề thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được quy định tại Điều 615 BLDS 2015, theo đó Trong phạm vi di sản để lại, những người được hưởng di sản thì phải thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết, trừ trường hợp những đồng thừa kế có thỏa thuận khác; Trong phạm vi di sản để lại, nếu di sản chưa được chia thì người quản lý di sản thực hiện nghĩa vụ tài sản theo thỏa thuận của những người thừa kế; Nếu di sản đã được chia thì mỗi người nhận thừa kế sẽ phải thực hiện nghĩa vụ tài sản tương ứng nhưng không vượt quá phần thừa kế đã được nhận. Tuy nhiên, các đồng thừa kế cũng có quyền thỏa thuận với nhau về việc thực hiện nghĩa vụ tài sản như thế nào; Nếu trong di chúc có người thừa kế không phải là cá nhân thì người thừa kế đó cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản tương tự với cá nhân. Người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại Những người không nhận thừa kế Theo quy định tại Điều 620, Điều 621 BLDS 2015, có 02 trường hợp người không nhận thừa kế Người từ chối nhận di sản trừ trường hợp từ chối để trốn tránh nghĩa vụ tài sản của mình với người khác thì những người có quyền có quyền từ chối nhận phần di sản được nhận; Những người không được quyền hưởng di sản, bao gồm Người đã bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe; hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành vi hành hạ hoặc hành vi xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm người để lại di sản; Người có hành vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng đối với người để lại di sản; Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng của người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng; Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. Không nhận thừa kế thì có phải trả nợ thay người chết không? Cha mẹ có phải trả nợ thay con không? Chồng chết vợ có phải trả nợ thay không? Nợ cha mẹ thì con cái có phải trả không?… Tất cả những câu hỏi trên đều là thắc mắc của rất nhiều người. Theo khoản 3 Điều 422 BLDS 2015, hợp đồng sẽ chấm dứt khi cá nhân giao kết hợp đồng đó chết mà hợp đồng phải do chính cá nhân đó thực hiện. Theo Điều 615 BLDS 2015, những người thừa kế phải trả nợ thay người đã chết trong phạm vi di sản được nhận, trừ trường hợp các đồng thừa kế có thỏa thuận khác. Như vậy, hợp đồng vay tài sản sẽ chấm dứt khi cá nhân chết, những người thừa kế sẽ có trách nhiệm trả nợ trong phạm vi di sản được nhận; điều này tức là người thừa kế không phải trả nợ thay người chết nếu họ không nhận thừa kế. Nói ngắn gọn, nếu việc vay tài sản là của riêng một cá nhân thì khi cá nhân đó chết, nghĩa vụ trả nợ thay chỉ phát sinh khi có người nhận thừa kế. Không phải trả nợ thay người chết nếu không nhận thừa kế Trên đây là toàn bộ bài viết tư vấn chi tiết về việc khi không nhận thừa kế thì có phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho người chết hay không. Nếu quý bạn đọc còn vấn đề chưa hiểu, có khó khăn trong quá trình tìm hiểu hoặc có các vấn đề khác liên quan đến lĩnh vực thừa kế thì có thể gọi ngay qua HOTLINE để được LUẬT SƯ TƯ VẤN LUẬT THỪA KẾ hỗ trợ chi tiết và kịp thời. Xin cảm ơn! *Lưu ý Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung tư vấn trên có thể sẽ không còn phù hợp. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email chuyentuvanluat Bài viết được thực hiện bởi Thạc Sĩ Luật Sư Võ Mộng Thu Lĩnh vực tư vấn Lao Động, Hành Chính, Hôn Nhân Gia Đình, Dân Sự Trình độ đào tạo Thạc sỹ Luật, MBA Số năm kinh nghiệm thực tế 09 năm Tổng số bài viết 632 bài viết

thừa kế nghĩa vụ trả nợ